Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Chùa Giác Lâm



                                                                                                                                                                                               Chùa Giác Lâm 


Là một ngôi cổ tự trầm mặc được đánh giá có tuổi đời lâu nhất tại TP. Hồ Chí Minh, chùa Giác Lâm hiện nay tọa lạc tại số 118 đường Lạc Long Quân phường 10, Quận Tân Bình .

Chùa được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1744 do một người Minh Hương tên là Lý Thụy Long quyên tiền xây dựng. Do những biến động lịch sử của Trung Quốc nên trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII có rất nhiều người Trung Hoa theo phong trào “phản Thanh phục Minh” đã rời bỏ quê hương để đi lưu vong tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Khi rời xa cố quốc, một hành trang không thể thiếu được đối với họ chính là văn hóa – tín ngưỡng. Chính vì lẽ đó, khi sang Việt Nam lập nghiệp, những hoa kiều này đã tự bỏ hoặc quyên tiền xây dựng khá nhiều những ngôi miếu, chùa trên vùng đất mới, và đó dường như cũng trở thành một truyền thống của nhóm cư dân này tại tất cả mọi nơi trên thế giới, qua đó đã ít nhiều góp phần tạo nên những công trình kiến trúc có giá trị cả về thẩm mỹ lẫn tín ngưỡng - tôn giáo.   

Chùa Giác Lâm cũng được xây dựng trong bối cảnh như đã trình bày ở trên, chùa được xây dựng trên một gò đất khá cao giữa một rừng cây xanh, cổ thụ tỏa bóng rộng bát ngát, tạo nên một cảm giác thật an lành hạnh phúc. Cái tên “Giác Lâm” phải chăng cũng gợi nên sự giác ngộ nơi chốn rừng thiêng thanh tịnh ?  Chắc hẳn Lý Thụy Long xưa kia đã xem xét rất kỹ về thế đất cũng như các điều kiện thiên nhiên hữu tình nơi đây rồi mới cho xây dựng chùa. Trong khoảng năm từ 1744 đến 1774 ngôi chùa không có người trụ trì. Năm 1774 thiền sư Viên Quang về trụ trì chùa và là vị trụ trì đầu tiên của chùa .

Ngôi cổ tự trên đã trải qua một số lần trùng tu lớn trong những khoảng thời gian cụ thể vào những năm 1798 – 1804, 1900 – 1909, 1939 – 1945, 1992 – 1993. Trải qua nhiều lần trùng tu những ảnh hưởng của các nền văn hóa bên ngoài đã du nhập và để lại dấu ấn trong một số đường nét kiến trúc của ngôi cổ tự, tuy nhiên những nét kiến trúc cổ truyền thống của người Việt, Hoa vẫn được bảo tồn cho đến tận hôm nay.  

Chùa Giác Lâm có thể được coi như một ngôi chùa tiêu biểu về mặt kiến trúc, cũng như cách thức phối tượng, nghệ thuật trang trí Phật giáo đại thừa tại khu vực Sài Gòn – Gia Định. Ngôi cổ tự trầm mặc cùng thời gian này từ lâu đã thu hút rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước trên nhiều lĩnh vực đặc biệt dưới khía cạnh tôn giáo và kiến trúc cổ !  

Theo kiến trúc ban đầu, chùa không có cổng Tam Quan thể hiện lối tư duy thoáng đạt của người dân vùng Nam Bộ trong giai đoạn đầu khai khẩn miền đất mới. Cổng Tam Quan của chùa hiện nay là một công trình kiến trúc mới được xây dựng vào năm 1955 với những chất liệu xây dựng hiện đại. Ngoài ra trên cổng “nhị quan” của chùa được xây dựng vào những thập niên 30, 40 của thế kỷ XX còn thể hiện rõ sự giao lưu với các yếu tố văn hóa bên ngoài qua những họa tiết trang trí có màu sắc văn hóa Ấn Độ như đầu rắn Naga, cặp sư tử trong tư thế chầu tại góc cổng. Bên cạnh đó, do những đổi thay của lịch sử trong giai đọan nửa sau thế kỷ XIX, nên các  yếu tố trang trí mỹ thuật của văn hóa phương Tây đã được thể hiện qua các cột trụ và chân cổng tạo nên một vẻ sinh động, tài tình trong các đường nét mỹ thuật. 

Qua khòi cổng Tam Quan là tới khuôn viên sân, vườn chùa Giác Lâm. Không gian này rất rộng lớn với những cây cổ thụ lâu năm tỏa bóng mát làm dịu đi cái không khí nóng bức vốn thường thấy tại vùng Nam Bộ. Bước vào sân vườn chùa chúng ta có cảm giác như lạc vào một cõi hư ảo, huyền bí của nơi đất Phật. Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức đã có những lời ca tụng phong cảnh của Giác Lâm Tự như sau : “Chùa ở trên gò Cẩm Sơn, cách phía tây Lũy Bán Bích 3 dặm…., cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà cõ nhã khí[1]. Lời khen của Trịnh Hoài Đức quả thật không sai. Toàn bộ kiến trúc cổ kính của ngôi chùa nằm lẩn khuất sau những tán cây xum xuê như trầm mặc, thanh tĩnh hơn cùng với thời gian, năm tháng. Ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có nhiều mộ tháp của những trụ trì, tăng sỹ đã từng tu tập tại chùa .

Xét trên tổng thể kiến trúc thì chùa Giác Lâm có dạng kiến trúc hình chữ Tam, với kết cấu khung sườn cũng như hệ thống vì kèo được làm bằng các loại gỗ danh mộc tốt, phần mái chùa lợp ngói âm dương, dáng mái dốc và không có dạng đầu đao phù hợp để thoát nước trong những trận mưa lớn tại vùng đất Nam Bộ. Từ phía sân chùa vào, phần kiến trúc đầu tiên là chính điện, ngay sau chính điện là nhà giảng đường, hai mái chính điện và giảng đường được nối với nhau theo kiểu xếp đọi thường thấy trong các ngôi chùa ở Nam Bộ tạo nên sự nguy nga, rộng lớn trong tổng thể kiến trúc chung của chùa. Tiếp nối giữa nhà Giảng và Nhà trai là một khoảng sân thiên tĩnh để lấy ánh sáng tự nhiên vốn là một motip quen thuộc trong kiến trúc chùa Việt Nam .

Chùa Giác Lâm được dựng lên với hệ thống khung sườn và vì kèo bằng gỗ theo kết cấu đâm trính, cột kê. Chùa được dựng lên bởi 98 cột gỗ tạo nên sự vững chắc trong toàn bộ kiến trúc. Những cột gỗ lâu năm tại đây mang đến một sự trang trọng, cổ kính và thâm nghiêm cho ngôi chùa. Các cột gỗ được kê trên những tán đá vững chắc cũng là kết cấu quen thuộc của hầu hết các công trình kiến trúc cổ truyền tại Việt Nam.       

Khu vực trung tâm của chùa là chính điện, phía trên mái chính điện có tượng lưỡng Long tranh châu. Đây là nơi tập trung những kiến trúc cũng như những tác phẩm tạo tác đặc sắc của một ngôi chùa. Chính điện chùa Giác Lâm với kết cấu như đã trình bày ở phần trên, cộng với sự phối trí các tượng thờ có thể coi như một hình mẫu điển hình cho các ngôi chùa ở khu vực Sài Gòn – Gia Định. Lượng ánh sáng tự nhiên được thiết kế lọt vào chính điện khá ít ỏi tạo nên một sự uy nghiêm của chốn tâm linh. Chùa Giác Lâm có tổng cộng 113 pho tượng, phần lớn tượng trong chùa được làm bằng gỗ mít có niên đại từ giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX . Chính điện chùa là nơi bài trí nhiều tượng thờ nhất, các tượng thờ tại chùa có niên đại khác nhau được tạo tác bởi những nhóm thợ khác nhau nên phong cách chế tác cũng khác nhau. Một số tượng mang phong cách tạo tác của một số nghệ nhân khu vực miền Bắc, số khác lại mang phong cách của những nghệ nhân khu vực miền Trung hoặc miền Nam.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phong cách tạo tác tượng của khu vực miền Bắc, miền Trung thường thể hiện sự góc cạnh, đường nét trong mỗi pho tượng, còn các pho tượng ở miền Nam thường thể hiện một sự phóng khoáng và mang đậm tính hình khối. Để giải thích cho sự khác biệt đó, người ta thường giải thích dưới góc độ “địa văn hóa”. Tuy nhiên đó cũng chỉ là một ý kiến ! Phải chăng sự khác biệt trong phong cách tạo tác ấy là do quá trình giao lưu văn hóa và đan xen văn hóa qua các thời kỳ trong lịch sử ?       

Các pho tượng được xắp xếp tại chính điện chùa Giác Lâm có thể xem là một mô thức tiêu biểu cho cách phối tượng trong các ngôi chùa cổ tại tp. Hồ Chí Minh nói riêng và vùng Nam bộ nói chung .   

Ở bậc cao nhất trên bàn thờ trong chính điện chùa Giác Lâm là bức tượng Phật A Di Đà, bên trái (nằm ngoài bàn thờ chính điện) là tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, bên phải là tượng Bồ Tát Đại Thế Chí đây chính là bộ tượng Di Đà Tam Tôn. Ở hàng dưới tượng A Di Đà là tượng Thích Ca ở chính giữa, hai bên trái phải là tượng Ca Diếp và An Nan. Dưới bức tượng này là tượng Cửu Long thể hiện lúc đức phật Thích Ca mới chào đời có chín con rồng tới phun nước để tắm cho người . 

Bên dưới tượng Cửu Long là tượng Phật đản sinh, bên trái là tượng ông Ác bên phải là tượng ông Thiện. Phía dưới cùng của bàn thờ chính là bộ tượng ngũ hiền thượng kỳ thú  gồm tượng Thích Ca ở giữa hai bên là Bồ Tát Quán Thế Ấm, Đại Thế Chí, Văn Thù và Phổ Hiền. Các tượng này tay đều trong thế bắt ấn thể hiện tư thế đang hoằng hóa chúng sinh .


Hai bên trái phải của chính điện là bộ tượng thập bát la hán và thập điện diêm vương. Chùa Giác Lâm có hai bộ tượng Thập Bát La Hán. Trong đó bộ nhỏ hơn có niên đại sớm hơn (khoảng giữa thế kỷ XVIII) bộ lớn hơn có niên đại muộn (Khoảng đầu thế kỷ XIX). Ở bộ tượng La Hán niên đại sớm chúng ta thấy rằng  có nhiều đường nét tạo tác thể hiện sự ảnh hưởng của mỹ thuật Phật Giáo Trung Quốc mà điển hình nhất có thể thấy là chiếc áo khoác trên mình các vị La Hán có cổ cao và khuôn mặt các vị La Hán này cũng có nhiều đặc điểm nhân chủng của người Trung Quốc. Mặt khác nét suy tư, trầm ngâm trên khuôn mặt mỗi vị cũng cho thấy sự ảnh hưởng đậm nét của nghệ thuật phật giáo Trung quốc.

Song ở bộ tượng La Hán lớn hơn những đặc điểm ảnh hưởng của mỹ thuật phật giáo Trung Quốc đã giảm hẳn, từ chiếc áo khoác trên người các vị La Hán cũng đơn giản và mộc mạc hơn, phóng hoáng hơn, nét mặt của các vị hiện lên một vẻ rất tươi vui chứ không u buồn ủ rũ ! Phải chăng môi trường thiên nhiên của vùng đất mới đã tạo nên tâm trạng phấn khởi tươi vui trong tâm thức của những con người đang khai phá vùng đất mới để rồi tâm trạng hứng hởi đó cũng được chuyển thể khéo léo vào những pho tượng La Hán ?  

Phía cửa chính điện là tượng hai ông Hộ Pháp để bảo vệ nơi phật điện. Ngoài ra trong chùa còn phối trí một số bức tượng khác như tượng Tiêu Diện Đại Sỹ, Quan Thánh, Quan Bình, Châu Xương, Bồ Đề Đạt Ma, Mã Quan .

Phía sau bàn thờ chính được ngăn cách bằng một bức bình phong lớn là tới gian thờ Tổ của chùa theo cách bố trí thường thấy của Nam Bộ đó là “Tiền Phật Hậu Tổ” nơi đây có đặt hình ảnh cũng như các bài vị các vị tổ khai sáng ra chi phái Lâm Tế dòng đạo Bổn Ngườn. Phía sau gian thờ tổ là đến khu vực giảng đường với kiểu mái nối đọi với mái chính điện. Giảng đường có kết cấu và vật liệu tương tự như chính điện là nơi hội tụ các Tăng sỹ từ nhiều nơi đến dự các sự kiện quan trọng trong những dịp lễ của chùa.

Giảng đường được nối với nhà Trai thông qua một sân Thiên Tĩnh có tác dụng lấy ánh sáng cho ngôi chùa. Nhà trai là nơi học tập của các Tăng sỹ. Và  để hòa vào tổng thể kiến trúc chung nên trai đường cũng được xây dựng với lối kiến trúc không có mấy khác biệt so với chính điện và nhà giảng. Vẫn với những vật liệu gỗ truyền thống và kết cấu đâm trính cột kê quen thuộc, trai đường là phần kiến trúc cuối trong tổng thể kiến trúc chính của chùa Giác Lâm.  

Trải qua thời gian tồn tại dài lâu cùng dòng chảy lịch sử đầy biến động, chùa Giác Lâm hiện nay còn lưu giữ nhiều tác phẩm mỹ thuật Phật giáo độc đáo mà tiêu biểu phải kể đến đó là những câu đối bằng chữ Hán được tạo tác trên phần lớn những thân cột gỗ tại chùa. Có hơn 40 cặp câu đối được chạm nổi hoặc khắc chìm trên những thân cột trong chùa và được trang trí cầu kỳ với đường nét Hán tự cao rộng, thoáng đạt. Những câu đối này không chỉ đẹp về hình thức thể hiện mà còn mang trong mình những triết lý thâm sâu về mặt tư tưởng nhân sinh quan ! Ngoài ra trong chùa còn có một số liễn đối được làm bằng thân cây dừa vốn là loại cây quen thuộc tại vùng Nam Bộ, tuy nhiên số liễn đối dạng này không nhiều. Những bức hoành phi thể hiện tư tưởng Phật Giáo cũng như tư tưởng hướng thiện là những tác phẩm nghệ thuật có tính thẩm mỹ cao một vài bức hoành phi bằng chữ hán tiêu biểu như: “ Đạo Mạch Trường Hưng”,  “Phật Pháp Trường Hưng”, được sơn đen thiết vàng rất độc đáo .  

Đặc sắc nhất trong nghệ thuật trang trí tại Chùa Giác Lâm là 9 bao lam được tạo tác theo kiểu chạm lộng và phần lớn được đặt trong chính điện. Những bao lam này phong phú về đề tài, sinh động trong đường nét thể hiện. Có thể dễ dàng nhận ra motip thể hiện thường thấy trong nền mỹ thuật phật giáo như hình tượng Cửu Long (chín con rồng) được tạo tác sinh động, mềm mại đang uốn lượn phu nước tắm cho Đức Phật khi ngài ra đời. Hình ảnh những con vật thân quen bình dị thường thấy trong cuộc sống hàng ngày của người dân nơi đây cũng được thể hiện thật sinh động trong từng đường nét, cử chỉ, dáng vẻ, chẳng hạn như hình ảnh chú sóc đang say sưa thưởng thức trái cây bên cạnh một chú sóc khác đang tiến đến gần một chùm quả trong tư thế rón rén thận trọng. Tất cả đều thể hiện một cuộc sống thanh bình, khát vọng yêu thương cuộc sống, sự sinh sôi nảy nở của vạn vật cây trái. Điều đó cũng phần nào gợi cho ta cảm nhận được cuộc sống tương đối dư giả và hạnh phúc của những con người nơi đây trong lịch sử. 

Không gian trong bức bao lam dường như rộng rãi, thoáng đạt hơn nhờ hình ảnh những chú chim đang bay lượn trên không với dáng vẻ thoải mái, tự do hay những đề tài “phi, minh, túc, thực” của lòai chim cũng được tạo tác với những  đường nét tinh tế, sống động ẩn hiện trong lớp hoa văn dây lá trông thật tự nhiên, giàu sức biểu cảm .

Những bộ bàn thờ trong chùa cũng là những hiện vật quý được chế tạo từ những loài danh mộc và tạo tác khá công phu với sắc màu đen bóng của thời gian càng làm tăng thêm vẻ cổ kính, uy linh, trầm mặc của nơi thờ tự. Dường như có một motip chung thường thấy trong các bàn thờ tại những ngôi cổ ở tại tp. Hồ Chí Minh là không có những nét chạm khắc tại gờ mặt và chân mà chỉ có những nét chạm khắc ở rèm phía trước mặt bàn thờ theo lối chạm lộng những đề tài thường thấy như dây lá hóa rồng, sóc nho, hoa trái………

Những bộ lư hương (thường là bộ tam sự), bình hoa, chân đèn trong chùa cũng là những cổ vật có giá trị nghệ thuật to lớn cần được gìn giữ một cách cẩn trọng. Những cổ vật ấy vừa có giá trị vật chất lại vừa mang màu sắc văn hóa đậm nét trong sự giao lưu, đan xen đa chiều của văn hóa .   

Là một ngôi cổ tự có tuồi được xếp vào hạng bậc nhất của khu vực Sài gòn – Gia định, nên thật khó có lời nói, bài viết nào có thể thể hiện toàn bộ những giá trị văn hóa, văn vật của ngôi cổ tự cao niên này ! Chùa Giác Lâm mang trong mình những nét độc đáo về kiến trúc cũng như nghệ thuật trang trí mỹ thuật phật giáo, ngôi chùa này có thể được xem là đại diện tiêu biểu cho những ngôi chùa cổ theo hệ phái Bắc Tông ở khu vực Sài gòn – Gia định nói riêng cũng như khu vực Nam Bộ nói chung .  

Tài Liệu Tham Khảo 

Nguyễn Quảng Tuân, Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên, Những Ngôi Chùa Ở Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB TP.Hồ Chí Minh Năm 1993

Bảo Tàng Cách Mạng TP.Hồ Chí Minh, Di Tích Lịch Sử Văn Hóa TP.Hồ Chí Minh NXB Trẻ Năm 1998




[1] Nguyễn Quảng Tuân, Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên, Chùa Giác Lâm “Những Ngôi Chùa Ở TP. HỒ Chí Minh” NXB TP. HCM năm 1993 

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Chùa Phụng Sơn

                                                                        Chùa Phụng Sơn

          Phụng Sơn Tự là tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở khu vực Sài Gòn – Gia Định. Trải qua những biến động của thời gian ngôi chùa hiện nay vẫn còn lưu giữ được những nét kiến trúc cổ xưa. Hiện chùa tọa lạc tại địa chỉ số 1408 đường 3/2, quận 11 TP. Hồ Chí Minh

Theo những tư liệu cổ thì chùa được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XIX dưới triều vua Gia Long do thiền sư Liễu Thông từ miền Trung vào Nam để  hoằng hóa chúng sinh. Khi đến vùng đất gò mà hiện nay là chùa Phụng Sơn vị thiền sư đã thấy khung cảnh hữu tình, nên thơ với tiếng chim hót líu lo, thanh bình và yên ả nên người bèn lập một thảo am mái lá vách tranh để tiến hành tu tập và thuyết giảng cho chúng sinh. Đến năm 1904 thảo am cũ được xây dựng lại theo ý kiến của thiền sư Huệ Minh (trụ chì chùa 1904- 1915) .

Chùa Phụng Sơn có vài lần trùng tu và sử chữa thêm vào những năm 1960. Đến năm 1963 hòa thượng Thích Phước Quang cho xây lại cổng Tam Quan theo sự thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. Tuy có trùng tu nhưng chùa Phụng Sơn cơ bản vẫn còn giữ lại được những kiến trúc tiêu biểu, cổ kính của mình .

Vị trí của chùa được lựa chọn rất kỹ từ khi thiền sư Liễu Thông chọn đất dựng nên thảo am. Vốn là một vùng đất gò cao ráo (nên chùa còn được gọi là chùa Gò) xuang quanh gò có hào nước bao quanh, cảnh sắc thiên nhiên thật hữu tình. Từ xưa đến nay, vịệc chọn đất xây chùa là một công việc vô cùng quan trọng, thường thì các bậc tiền nhân hay chọn những vùng đất có vị trí cao ráo, sơn thủy hữu tình tạo cho ngôi chùa có một vị thế uy nghiêm, trang trọng và tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt của thuật phong thủy. Chùa Phụng Sơn tọa lạc trên một khu vực mà trước đây là vị trí của một ngôi đền thần Bà La Môn trong nền văn hóa Óc Eo cổ xưa cách ngày nay đã khoảng 15 thế kỷ điều đó đủ cho thấy rằng vị trí linh thiêng cũng như cảnh sắc tuyệt vời nơi đây! Những kết quả khai quật khảo cổ học tại khuôn viên chùa đã chứng minh rằng khuôn viên chùa thuộc nền văn hóa trong cương vực quốc gia Phù Nam xa xưa.

Phụng Sơn Tự nhìn chung có diện tích rộng lớn và quy mô, mái chùa cổ nằm khuất sau bao la cây cối mang đến cho người tham quan chùa một cảm giác thật bình yên nhẹ nhàng. Cũng như những ngôi cổ tự khác trên mảnh đất Sài Gòn – Gia định, cấu trúc chùa Phụng Sơn cũng gồm những hạng mục cơ bản như: cổng tam quan, khu vực sân, vườn chùa, chính điện, nhà tổ, nhà giảng…..v…..v….. Nhìn tổng thể kiến trúc của Phụng Sơn Tự theo kiểu “nội công ngoại quốc” rất rộng lớn và tráng lệ, với hành lang bao quanh, Đông Lang và Tây Lang chạy dọc nối chính điện và nhà giảng qua một khoảng sân thiên tĩnh ở giữa. 

Kiến trúc đầu tiên của một ngôi chùa thường là cổng Tam Quan, chùa Phụng Sơn cũng không là ngoại lệ dù rằng các chùa phía Nam thường ít xây dựng cổng Tam Quan hơn so với các ngôi chùa tại khu vực phía Bắc và miền Trung. Cổng Tam Quan vừa có tác dụng trong cuộc sống thế tục lại như là một ranh giới tâm linh giữa chốn đời và chốn đạo. Cổng tam quan chùa gồm một cổng chính to cao ở giữa và hai cổng phụ ở hai bên cổng chính. Cổng tam quan của chùa Phụng Sơn được xây dựng cách đây không lâu (năm 1963) theo bản vẽ thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. Nhìn chung cổng Tam Quan của Phụng Sơn Tự khá mộc mạc hòa nhập một cách toàn diện với khung quanh hữu tình xung quanh.  

Qua khỏi cổng Tam Quan là tới khu vực sân chùa, tại khu vực này người đến viếng chùa chính thức cảm nhận được cái khung cảnh thâm nghiêm, oai linh đượm chút cô tịch thường thấy nhưng lại rất bình dị của chùa. Sân, vườn chùa Phụng Sơn  rộng rãi có trồng nhiều cây cối làm cho không gian quanh chùa như dịu đi, khiến tâm hồn con người như thoải mái hơn, tĩnh lặng hơn để nhận thấy bản chất của cuộc sống là vô thường để rồi hướng tâm đến cái chân ngã vi diệu của đạo Phật.

Trong phần khuân viên rộng lớn của sân chùa có dựng tượng bồ tát Quán Thế Âm là vị bồ tát cứu khổ cứu nạn chúng sinh với chiếc lư hương phía trước và lọng che nắng, mưa rất kính cẩn như góp phần tạo nên vẻ đẹp của sự từ bi vô lượng mà ngài đã phát nguyện tới tất cả chúng sinh trong cõi Ta bà lắm đau khổ này !  

Trong phần kiến trúc xây dựng chính của chùa đầu tiên là chính điện. Chính điện là trung tâm của một ngôi chùa, đây cũng là nơi đặt phần lớn các bức tượng phục vụ cho việc thờ tự tại chùa. Chính điện chùa Phụng Sơn được xây với bộ khung gỗ và vì kèo theo dạng thức đâm trính – cột kê  được làm bằng gỗ, các cột này được kê trên các tán đá hình tròn tạo nên vẻ chắc chắn cho toàn bộ kiến trúc. Trải qua hơn 200 năm tồn tại và những lần trùng tu sau này, bộ khung vẫn giữ được nguyên dáng vẻ với kết cấu như xưa. Xung quanh chính điện được xây bằng tường gạch quét vôi màu vàng, mái chính điện được lợp ngói âm dương, độ dốc mái lớn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoát nước trong mùa mưa. Đây cũng là sự thích ứng với môi trường trong kiến trúc truyền thống của người Việt. Đầu ngói được làm bằng gốm xanh càng làm tăng thêm tính mỹ thuật, tráng lệ của ngôi cổ tự. Phần nền chùa được lát gạch tạo nên vẻ trang trọng và tôn nghiêm của nơi thờ tự. Không gian trong chính điện chùa được thiết kế rộng rãi tạo nên vẻ uy nghiêm, lượng ánh sáng tự nhiên cũng được khéo léo hạn chế trong chính điện tạo nên vẻ sự linh thiêng và huyền bí .

Hệ thống rui mè, xà của chùa được làm bằng gỗ với những họa tiết điêu khắc thường thấy tại vùng Nam bộ với đường nét chạm khắc tinh tế cầu kỷ trong từng cấu kiện nhỏ nhất tạo nên vẻ trang trọng gây cảm xúc thẩm mỹ cao cho người tớithăm viếng chùa viếng chùa. Chính điện của chùa được dựng theo mô thức “tứ tượng” tức 4 cột chính giữa điện có bình diện hình vuông. Mô thức tứ tượng thường chỉ được dung cho các công trình kiến trúc để thờ tự như đình, chùa…..Các cột gỗ trong chùa trải qua sự thử thách của thời gian nay đã trở nên đen bóng như làm tăng thêm vẻ cổ kính cho ngôi cổ tự trầm mặc này !

Cũng như những ngôi chùa theo hệ phái Đại Thừa ở Nam bộ, chùa Phụng Sơn có một số bộ tượng Phật thường thấy như bộ Di Đà Tam Tôn (gồm tượng Phật Ai Di Đà, tượng bồ tát Quán Thế Âm, và bồ tát Đại Thế Chí). Bộ tượng năm vị (ngũ hiền) thượng kỳ thú (Thích Ca, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền) và một số tượng khác như tượng Linh Sơn Thánh Mẫu, tượng, Long Vương, Quan Thánh Đế Quân, bộ tượng thầy trò Đường Tăng….

Trong chính điện chùa Phụng Sơn có hai bộ tượng Di Đà Tam Tôn được đặt ở phía trên cùng trong bàn thờ tại chính điện chùa, việc người dân tiến cúng tượng phật khiến cho nhiều ngôi chùa có hai hay ba bộ tượng giống nhau cũng là điều dễ hiểu . Phía dưới bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở hai bên là tượng Ông Thiện và Ông Ác (ông Thiện bên trái, ông Ác bên phải). Ở vị trí gần với người đến viếng nhất là bộ tượng Ngũ Hiền gồm có tượng Thích Ca đứng chính giữa, bên trái Thích Ca là Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí. Bên phải là Văn Thù và Phổ Hiền. Các tượng trong bộ “Ngũ Hiền” này được tạo tác với tư thế thượng kỳ thú và các con thú đều ở trong tư thế đứng. Những kỳ thú ở đây là những loài mãnh thú có sức mạnh to lớn như sư tử, voi….. Những con vật trên làm vật cưỡi cho chư phật như thể hiện một sự thuần phục của mọi thế lực mạnh mẽ trong tự nhiên trước phật pháp. 

Đặc biệt bồ tát Phổ Hiền thượng trên con voi có 9 ngà ở đây là một trong những bức tượng độc đáo của vị bồ tát này bởi thông thường voi trắng là vật cưỡi của bồ tát Phổ Hiền chỉ có 6 ngà, 9 ngà là một sự phá cách. Hình ảnh voi trắng tượng trưng cho sự uyên bác của trí tuệ. Hai bên tả, hữu của chính điện còn có bộ Thập Điện Diêm Vương được tạo tác công phu. Đặc biệt trong chính điện còn có bức tượng Linh Sơn Thánh Mẫu biểu thị cho tín ngưỡng dân gian, dòng tín ngưỡng dân gian đã sớm có sự hòa hợp với đạo Phật ngay từ khi đạo Phật mới du nhập vào trung tâm phật giáo Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) trong những thế kỷ đầu công nguyên .

Đối diện với tượng Linh Sơn Thánh Mẫu qua bộ “Ngũ Hiền” là tượng Quan Thánh Đế Quân một nhân vật anh dũng, trung nghĩa cũng được thờ tại chính điện như một vị thần hộ vệ cho phật pháp. Một số tượng khác cũng được thờ trong chùa như tượng bốn thầy trò Đường Tăng, Long Vương, Bồ Đề Đạt Ma, Thiện Tai, Long Nữ, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Bức tượng Hộ Pháp đứng song song với tượng Tiêu Diện Đại Sỹ ở ngay cửa vào như để bảo vệ cho đất Phật linh thiêng. Tượng Tiêu Diện Đại Sỹ tại chùa Phụng Sơn được làm bằng gốm sứ sài gòn là một cổ vật quý, góp phần làm phong phú cho phong cách nghệ thuật tạo tác tượng trong những thế kỷ trước tại Nam bộ.

Nhìn chung, các pho tượng Phật cũng như chư vị thần thánh khác trong chùa được tạo tác một cách tinh xảo bằng các vật liệu chủ yếu là gỗ và gốm, qua phong cách nghệ thuật của mỗi bức tượng ta thấy phảng phất đâu đó nghệ thuật tạo tác của nhiều nhóm thợ từ những vùng khác nhau trên cả nước đó là vẻ trầm tư suy nghĩ hay một chút gì đó thoáng đạt, vui tươi tự sâu trong tâm hồn của từng bức tượng hay cũng chính là của nghệ sỹ trong lịch sử ! Dù sao đi nữa đấy là một đề tài lớn có tính chuyên khảo về nghệ thuật phật giáo của từng vùng miền, trong khuôn khổ của bài viết này người viết chỉ có thể dừng lại ở sự gợi mở cho quý độc giả cũng như những người quan tâm về những kiến trúc cổ của người Việt tại vùng đất Sài Gòn – Gia Định !    

Ngay sau chính điện là gian thờ tổ của chùa, thường thì các ngôi chùa ở Nam bộ với bố cục chủ yếu theo kiểu “Tiền Phật Hậu Tổ” nên chùa Phụng Sơn cũng không là ngoại lệ. Trong gian thờ tổ của chùa còn lưu giữ hai bức tượng chân dung hai vị tổ của chùa là Huệ Minh và Huệ Thành được tạc bằng gỗ với đường nét tả thực chân dung của hai vị tổ này. Xét trên lĩnh vực thẩm mỹ thì hai bức tượng trên quả thật là những tác phẩm nghệ thuật giàu sức biểu cảm. Kết cấu của nhà tổ gắn chặt với chính điện tạo nên sự liền lạc và chắc chắn cũng như góp phần tăng thêm diện tích cũng như không gian thờ tự của ngôi chùa.  
Với cấu trúc khá khép kín nên để tạo lượng ánh sáng cho tổng thể kiến trúc chùa, người ta đã xây dựng một sân thiên tĩnh ngay ở vị trí nối giữa gian chính điện và nhà giảng. Sân Thiên Tĩnh có tượng bồ tát Quán Thế Âm và trồng khá nhiều cây cảnh tạo nên tạo thêm sinh khí cũng như có tác dụng cân bằng lượng ánh sáng cho ngôi chùa. Nhà giảng đường nằm ở ngay sau sân thiên tĩnh cũng được xây dựng với hệ thống cột gỗ và mái được lợp ngói âm dương không có sự khác biệt nhiều so với kết cấu của chính điện.

Ngoài ra trong khu vực khuôn viên chùa còn có tháp tổ Huệ Thành được xây dựng công phu với nhiều chi tiết hoa văn mang ý nghĩa phật giáo, khuôn viên chùa có nhiều cây cối xum xuê, tỏa bóng mát làm cho bầu không khí quanh chùa thêm phần trong sạch, thanh tịnh, ngoài ra cây cối cũng góp phần tạo thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi cổ tự trăm năm tuồi này .

Trong khu vực chùa Phụng Sơn hiện nay vẫn còn ẩn chứa biết bao điều bí ẩn và hấp dẫn đối với những nhà nghiên cứu lịch sử vàvăn hóa học. Chùa hiện nay còn lưu giữ được hai bức tượng Thích Ca mang phong cách của Thái Lan và nhật Bản chứng tỏ sự giao lưu văn hóa trong quá khứ. Bức tượng Thích Ca mang phong cách Thái Lan được làm bằng đồng cao 126,5cm với dáng vẻ rất thanh mảnh, mang những đặc điểm nhân chủng dễ nhận thấy của cư dân Thái. Bức tượng rất thanh thoát, tạo cảm giác nhẹ nhàng và mang lại cảm giác mỹ thuật cao cho toàn bộ tác phẩm. Tượng được tạo tác trên một bệ tượng gồm 3 tầng mang hình dáng của cánh hoa sen là một loại biểu tượng kết hợp thường thấy trong nghệ thuật Phật Giáo. Bức tượng Thích Ca mang phong cách Nhật Bản bằng gỗ có tư thế thể hiện đức phật đang tọa thiền và tay đang bắt ấn, ngài choàng Samghati trong tư thế tập trung suy niệm. Cả hai bức tượng này đều là những cổ vật quý giá của chùa Phụng Sơn .

Chùa Phụng Sơn là một đi tích kiến trúc, tôn giáo quan trọng. Trong chùa hiện nay còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ rất đặc trưng cho nghệ thuật tạo tác tượng cổ ở khu vực Nam Bộ nói chung và hu vực Sài Gòn – Gia Định nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XIX, trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến bức tượng phật bằng đá dát vàng và bộ tượng Ngũ Hiền độc đáo ở chùa. Ngoài ra khuôn viên chùa Phụng Sơn còn là di chỉ khảo cổ học quan trọng của nền văn hóa Óc Eo cổ xưa gắn liền với vương quốc Phù Nam hùng mạnh một thời trong quá khứ. Chùa Phụng Sơn đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật theo quyết định số 1288- VH/QĐ ngày 16/11/1988 của bộ văn hóa .  

Tài Liệu Tham Khảo :   

BẢO TÀNG CÁCH MẠNG TP.HỒ CHÍ MINH DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NXB TRẺ NĂM 1998

TRẦN NHO THÌN, VÀO CHÙA LỄ PHẬT SỰ TÍCH – Ý NGHĨA CÁCH BÀI TRÍ, NXB HÀ NỘI NĂM 2008


Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Mấy Lời Tự Sự Nhân Lúc Rỗi Rãi.........

Cái nghề viết lách vốn là một thói quen của tôi từ thuở thiếu thời, hễ thấy cái gì hay ho thì liền ghi nhớ lại, chép vào một quyển tập nhỏ thỉnh thoảng lấy ra đọc sau đó đem so sánh với những kiến thức mà mình có dịp tiếp thu để hiểu hơn về một vấn đề nào đó. Tính ra cái thói quen này cũng tồn tại chí ít cũng là mười mấy năm trời tuy không là quá dài song cũng không thật ngắn. 

Mười mấy năm đọc sách, va chạm thực tiễn cuộc sống và ghi chép lại cũng được một số kha khá các kiến thức về tự nhiên, văn hóa- xã hội. Nhưng than ôi ! biển kiến thức thì mênh mông, sức người lại có hạn càng học tập, nghiên cứu, tìm tòi mới thấy kiến  thức thật sự là vô tận và những gì mình biết chỉ là những hạt cát vô cùng bé nhỏ chả thấm tháp vào đâu.......Nhưng cứ đọc sách mãi xem chừng nó dẫn con người ta đi đến đâu ? đi hoài không thôi, chả mấy chốc thời gian như bóng câu qua cửa sổ khiến ta chẳng mấy hóa già và xuống lỗ mất rồi! Tâm trí nghĩ rất nhiều việc giữa bộn bề trăn trở, tuy nhiên nhân lúc tĩnh lặng giữa đêm khuya thanh vắng bất chợt nhận thấy rằng đọc sách nhiều cho lắm vẫn cứ là kiến thức của người ta dù mình qua đó có thêm phần hiểu biết. Tự thấy cần phải viết lại những gì mình đã biết dẫu rằng kiến thức bản thân còn nhiều lỗ hổng và nông cạn....Những mong qua việc viết lách này góp phần hoàn thiện hơn về mặt kiến thức của chính bản thân cũng như gióp một phần thật nhỏ cung cấp cho quý bạn đọc một số thông tin, kiến thức về lịch sử, văn hóa....v..v.....trong những lúc rỗi rãi tản mạng đâu đó trên mạng internet. 

Những bài viết này không theo bất kỳ một thứ tự nào, cũng không phải là một cuốn sách mà chỉ là những bài ghi chép, nghiên cứu của bản thân người viết từ những nguồn tư liệu khác nhau cũng như những việc mắt thấy tai nghe hay đơn giản đó là một bài thơ, một tản văn nào đó ! Nói chung có thể gọi đó là một món "thập cẩm tri thức" ai có nhu cầu trong lĩnh vực nào cũng sẽ dần được phục vụ! Tuy nhiên sức người vốn có hạn lại cộng thêm trình độ còn nhiều hạn chế nên thành ra chắc chắn sẽ có nhiều những thiếu sót khách quan. Ấy vậy nhưng cũng không làm nản chí người viết, thôi thì cần cù bù thông minh vậy, vừa viết vừa mày mò nghiên cứu cộng thêm sự tiếp ứng của các bạn đọc nên cũng mong rằng bản thân ngày càng vỡ lẽ ra nhiều vấn đề. 

Trong thời đại khoa học công nghệ như hiện nay, thông tin như vũ bão, mạng internet đã làm cho con người giữa các châu lục, các nền văn hóa khác nhau tiến lại gần và hiểu nhau hơn. chỉ một cú click chuột máy tính chúng ta đã cô vô số những thông tin bổ ích. Người viết hi vọng rằng qua các bài viết của mình sẽ cung cấp một vài thông tin thú vị cho bạn đọc mà đặc biệt là những sinh viên ngành văn hóa học cũng như khảo cổ học  một chút ít kiến thức trong bao la kiến thức của nhân loại ! Nếu đúng thì các bạn nhớ lấy giùm, nếu sai các bạn sữa chữa cho kẻ lẩm cẩm này góp phần làm cho mọi người ngày càng tiến bộ xem ra đó cũng là một mục đích tốt  cần phát huy thật mạnh mẽ 

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Yếu tố mội trường ảnh hưởng đến nền văn hóa khảo cổ Đông Sơn

Kể từ buổi bình minh của lịch sử , cách đây vài triệu năm khi những con người mông muội đầu tiên bước vào cuộc sống đầy hoang sơ và bí ẩn trên trái đất thì giới tự nhiên đã tác động đến con người một cách sâu sắc , cứ theo thời gian cho đến tận ngày hôm nay chúng ta vẫn tồn tại trên địa cầu này , vẫn ngày đêm phát triển không ngừng chỉ có một điểm khác đó là chúng ta bây giờ hiện đại hơn và khả năng thích ứng với môi trường tốt hơn (nên nhớ là thích ứng chứ không phải chế ngự bởi con người không thể chế ngự được thiên nhiên mà chỉ thích ứng với thiên nhiên mà thôi) . Như vậy trong suốt hàng triệu năm của lịch sử loài người (ở đây xin tạm thời không đề cập đến các loài sinh động vật khác bởi vì chỉ có con người mới là chủ thể của văn hóa , yếu tố mội trường cũng ảnh hưởng rất lớn tới các loài sinh thực vật khác nhưng xin trình bày ở một bài viết khác có tính chuyên khảo về sinh học) con người luôn luôn gắn bó và chịu sự tác động trực tiếp của môi trường và một xu hướng dường như xuyên suốt trong lịch sử loài người đó là con người luôn có xu hướng gắn bó với giới tự nhiên và thích ứng với thiên nhiên . Chính sự thích ứng này là một động lực tất yếu khiến con người ngày càng tiến bộ . Ở đây chúng ta thấy rằng có một mối liên hệ tác động qua lại hai chiều giữa con người và mội trường cụ thể là môi trường thiên nhiên tác động tới con người và tới lượt mình con người lại thích ứng với môi trường thông qua các hoạt động của mình và từ đó các nền văn hóa ra đời . Nói như vậy không có nghĩa là văn hóa được hình thành từ một yếu tố duy nhất đó là mội trường bởi vì văn hóa là một định nghĩa vô cùng rộng lớn theo sự hiểu biết của cá nhân tôi thì hiện nay có khoảng vài nghìn định nghĩa về văn hóa trên thế giới ! Nhưng phải khẳng định một điều đó là yếu tố môi trường có một vị trí quan trọng và mang tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa . Chính vì thế yếu tố mội trường trong một nền văn hóa biểu thị qua những di vật và di tích là một vấn đề cần hết sức quan tâm và có hiểu được yếu tố mội trường tác động tới một nền văn hóa cụ thể chúng ta mới có được những hiểu biết đầy đủ về nền văn hóa đó . Các di tích và di vật mà khảo có học tại Việt Nam nói riêng cũng như Khảo cổ học trên thế giới nói chung đã phản ánh rất rõ nét về yếu tố môi trường trong đời sống của các cư dân cổ xưa . Những cồn sò điệp tồn tại trong các di tích thuộc văn hóa Bàu Tró tại khu vực trung bộ Việt Nam cho thấy môi trường sống gắn bó với thiên nhiên miền biển của cư dân khu vực này . Trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống hàng ngày chúng ta cũng thấy rằng những họa tiết trang trí trên những di vật của văn hóa Đông Sơn cũng thể hiện được sự gắn bó với yếu tố môi trường sinh sống của cư dân đương thời . Những nhà sàn với mái cong vút tạo cho chúng ta liên tưởng đến những chiếc thuyền lênh đênh trên sóng nước . Không chỉ khi sống mà ngay cả đến khi qua đời con người ta cũng thể hiện những yếu tố văn hóa chịu sự tác động của môi trường như mộ thuyền ở khu vực Bắc bộ Việt Nam là một ví dụ rõ nét nhất cho thấy sự tác động của thiên nhiên tới văn hóa của con người . Như vậy vai trò của môi trường đóng góp một phần quan trọng trong sự tiến bộ của loài người, nó định dạng văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia dân tộc hay một vùng lãnh thổ nào đó . Chính vì thế môi trường có một vai trò quan trọng xuyên suốt trong lịch sử hình thành và phát triển của loài người và con người không thể tách rời thiên nhiên . Thông điệp đó luôn có giá trị và không bao giờ lỗi thời 

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Chút Kỷ Niệm Cũ

Dòng thời gian trôi mãi cũng đã đến mấy năm trời cách biệt chả gặp mặt. Biết bao nhiêu nỗi niềm muốn nói nhưng cũng chả biết nói cùng ai . Dòng sông ngày xưa vẫn thật êm đềm nó chảy qua mái trường cũ thật thong thả và chậm rãi . Từng cơn gió thổi mang theo cái vị của hơi nước xua đi cái nóng nực của một ngày bận rộn và mệt mỏi nơi phố thị . Có lẽ thật may mắn khi tôi được học ở một ngôi trường với phong cảnh thi vị như vậy . Bởi thế mà giờ đây khi xa cách mái trường phổ thông đã mấy năm rồi nhưng tôi vẫn chẳng bao giờ quên được cái khung trời mộng mơ đó ! Cuộc sống thật bận rộn đôi khi nó làm cho con người chai sạn trong cảm xúc tâm hồn trở thành một người vô cảm , nhưng dù gì đi nữa thì tôi tin rằng những kỷ niệm đẹp , những khoảng trời mộng mơ của mỗi con người sẽ chỉ phai mờ một cách tạm thời giữa bộn bề cuộc sống và thật sự nó sẽ sống lại khi mỗi chúng ta có một khoảng lặng suy ngẫm và nhìn lại chính bản thân mình trong quá khứ . Kỷ niệm có thể vui hoặc buồn chuyện đó cũng chả có gì quan trọng nữa bởi tất cả đã thuộc về quá khứ mất rồi . dòng thời gian đã làm thay đổi mọi thứ , chúng ta trưởng thành hơn , chính chắn hơn và cũng đủ lớn đề nhìn về những gì đã qua , những yêu thương hờn giận thật ngây thơ và cũng đáng yêu biết dường nào . Cũng chả có gì phải tiếc nuối những gì đã diễn ra bởi nó đã là kỷ niệm rồi hãy để nó tồn tại như chính bản thân nó trong lịch sử của mỗi người và chúng ta hãy nhìn nhận nó thật khách quan và công bằng . Chỉ có dòng sông xưa là vẫn thế , vẫn dào dạt sóng nước mênh mông vỗ về đôi bờ đến tận nghìn năm.....................

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Lời Tựa Cho Khảo Cổ Học


Cũng lâu rồi không vào Blog viết lách một chút gì đó , mọi người thông cảm nha tại bận công việc quá đó mà . Cái công việc nghiên cứu khoa học này nó nhức đầu lắm . Nhưng kệ mình vẫn vui vì đã chọn một đam mê là đi theo khoa học mất rồi . Moi ngành khoa học đều có giá trị vô cùng to lớn đối với sự phát triển của loài người (ở đây cần phải hiểu là khoa học chân chính) . Khoa học lịch sử thuộc nhóm ngành khoa học nhân văn đã được quan tâm và hình thành từ thời cổ đại ở cả phương Tây và phương Đông với những sử gia nổi tiếng như : Herodot , Khổng Tử .v....v... Theo thời gian khoa học xã hội ngày càng phát triển vô cùng phong phú và rực rỡ với những nền tảng của triết học làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu nên từ lâu Khảo cổ học đã được khá nhiều những học giả quan tâm . Ở giai đoạn phong kiến cả phương Đông và phương Tây đều có những phát hiện thú vị về những hiện vật của thời đại trước đó , nó gây nên trí tò mò khám phá cho con người và họ bắt đầu quan tâm đến những hiện vật đó một cách hứng thú hơn . Việc giải thích những hiện vật đó trong thời gian đầu không thoát khỏi cái nhìn hạn chế và những yếu tố có liên quan đến những lực lượng siêu hình như tôn giáo chẳng hạn . Thời gian dần trôi con người với những thành công vượt bậc của khoa học kỹ thuật ngày càng làm chủ được cuộc sống của chính mình tuy vẫn còn chịu sự chi phối khá mạnh mẽ của tự nhiên song con người được vũ trang hóa bởi trí thức của thời đại đã không còn quá tin vào những chuyện huyền hoặc mà bắt đầu lý giải nó dưới góc nhìn của khoa học và kỹ thuật . Các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm tới những hiện vật mà con người đã sưu tập được và đặc biệt hơn họ đã bắt đầu nghiên cứu những dấu tích từ thời xa xưa để lại trên những công cụ hay vật chất nào đó thay vì tìm lời giải thích từ những tôn giáo lâu đời ! Và trời ơi ! một kho tàng kiến thức khổng lồ vô biên vô tận đã mở ra khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu những vật chất câm đó ! Chúng là những chứng nhân câm lặng của lịch sử và đặc biệt là chúng hoàn toàn khách quan . Công việc của các nhà nghiên cứu là giải mã chúng bắt chúng phải nói lên những điều đã từng xảy ra trong lịch sử loài người chí ít là vài triệu năm cách ngày nay . Lịch sử loài người luôn luôn vận động và phát triển từ những hình thức sơ khai ban đầu là việc sử dụng  những công cụ bậc 1 (một công cũ tự nhiên nào đó có thể bắt gặp bất cứ đâu trong tự nhiên) đến việc tạo ra công cụ từ những công cụ bậc 1 đó tạm gọi là công cụ bậc 2 . Bạn có thể hình dung được không ? Một cái đơn giản là chế tạo những công cụ đá đem lại những công năng cao cho cuộc sống thì con người đã mất vài triệu năm rồi đấy ! Có thể thấy rằng con người được hình thành cách đây khoảng 3,5 triệu năm từ một loài vượn phương Nam là Australopitec ở khu vực Đông và Nam Châu Phi cho đến tận thời đại cách mạng đá mới (10.000 năm Trước Chúa giáng sinh) thì con người vẫn đắm chìm trong những công cụ đá và việc chế tạo chúng . Thậm chí ngay trong thời đại đầu kim khí thì việc sử dụng các công cụ đá xem ra vẫn rất được chú ý . Như thế thời đại đồ đá kéo dài nhất trong lịch sử loài người , điều đó ai cũng biết nhưng tôi muốn nhắc lại ở đây để chúng ta thấy rằng tổ tiên của chúng ta đã phải mày mò trong quá vẵng như thế nào từ những hòn đá, hòn cuội trong tự nhiên chưa được chế tác cho đến những lưỡi rừu, những con dao đá hay những công cụ được mài một mặt hoặc hai mặt là cả một quá trình kiên trì sáng tạo không mệt mỏi của tồ tiên loài người . Sau thời đại đá là tới thời đại chuyển tiếp giữa đá và kim loại và rồi kim loại bắt đầu xuất hiện , nhựng thành tựu văn minh kỳ vỹ và to lớn của nhân loại cũng đã được hình thành trong giai đoạn đầu của thời đại kim khí này. Ven những con sông những quốc gia cổ bắt đầu hình thành ở khu vực Châu Phi phải kể đến một quốc gia đó là Ai Cập được hình thành ở khu vực Sông Nin với những thành tựu to lớn về tất cả các lĩnh vực như : Chữ viết , văn học , tôn giáo , nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc , y học thiên văn học ....v...v.....là những thành tựu hết sức to lớn khiến nhân loại phải ngưỡng mộ . Ở khu vực Lưỡng Hà thuộc Đông phương là khu của hai con sông lớn chảy qua đó là Tai gơ và Ơ rơ phát  tại khu vực này qua các cuộc điều tra và nghiên cứu khảo cổ học cũng thu được những bằng chứng hết sức cụ thể về lịch sử văn minh của một số quốc gia mà tiêu biểu là quốc gia Babilon nổi tiếng dưới triều vua Hamurabi lịch sử . Lần đầu tiên con người đã phát hiện ra một bộ luật được khắc trên đá của vua Hamurabi chứng tỏ xã hội đã phát triển tới một mức độ khá cao (những điều trong bộ luật này xin được giới thiệu ở một bài viết khác) . Rồi đến Ấn Độ một vương quốc của tâm linh với vô số những điều thú vị được các nhà khảo cổ phát hiện cũng làm nhân loại vô cùng kính phục . Việc phát hiện ra nền văn minh sông Ấn (có niên đại khoảng nửa sau thiên niên kỷ III trước thiên chúa giáng sinh đến khoảng năm 1750 trước thiên chúa giáng sinh) mà tiêu biểu là hai khu vực di tích vốn là hai thành phố cổ đại đó là Harapa và Mohengio-Daro đã cho thấy trình độ tổ chức đô thị và kỹ thuật xây dựng của cư dân khu vực văn minh sông Ấn phát triển tời mức nào và còn rất nhiều những phát hiện khác nữa liên quan đến những tôn giáo đã từng tồn tại trên mảnh đất này được các nhà khảo cổ đưa ra ánh sáng của thời hiện đại . Trung quốc một đất nước rộng lớn ở khu vực Đông Á cũng có một nền lịch sử văn hóa lâu đời ở ven khu vực hai con sông lớn đó là Hoàng Hà ở phương Bắc và Trường Giang (Dương Tử) ở phương Nam . Khảo cổ học cũng đã có những khám phá to lớn trên đất nước này từ thời tiền sử như việc phát hiện di cốt của người vượn Bắc kinh và sau đó là những khám phá về thời sơ sử và lịch sử của đất nước này . Xung quanh những trung tâm văn hóa trên các quốc gia phụ cận cũng như khắp mọi nơi trên thế giới này đều tồn tại những nền văn minh khác có sự giao lưu văn hóa cũng như những truyền thống riêng vô cùng độc đáo . Những thành quả văn hóa  lớn lao như thế không thể bị lãng quên trong lịch sử . Chính vì thế ngành Khảo cổ học với chức năng tìm tòi nghiên cứu và phục dựng lại lịch sử đã ra đời như một tất yếu phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu về lịch sử văn minh của nhân loại 

Mấy suy nghĩ về người Neantherthal

 Giới Thiệu Khái Quát Về Người Neanderthal

                    Lịch sử hình thành và phát triển của loài người đã được nhiều nhà nghiên cứu lớn trên thế giới quan tâm và tìm tòi . Trong những thập niên gần đây sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày một tiến bộ đã giúp những nhà nghiên cứu và nhân chủng học có thêm cơ sở khoa học để nghiên cứu về nguồn gốc cũng như quá trình phát triển của loài người . Tuy nhiên trong suốt chiều dài hàng triệu năm của lịch sử hình thành và phát triển có không ít những hiện tượng kỳ lạ và độc đáo mà những nhà nghiên cứu cho đến thời điểm hiện tại vẫn còn đau đầu và tất cả  ý kiến được đưa ra mới chỉ dừng lại ở giả thiết , một trong những hiện tượng đó có thể kể đến đó chính là sự biến mất một cách đột ngột của người Neantherthal ở cả châu Âu lẫn Châu Á . Vào năm 1856 ở Đức (trong thung lũng Neandectan gấn Diuxendo) đã phát hiện được một chỏm sọ , một mấu xương vai và một số di cốt các chi của người hóa thạch . Phát hiện này là một phát hiện ngẫu nhiên trong đợt làm sạch một cái hang nhỏ và một số công nhân đã tìm thấy những di cốt trên , tuy nhiên ban đầu không có mấy ai nghĩ rằng nó là di cốt của người mà lại nghĩ rằng đó là xương của một con gấu . Tuy nhiên Funrnot một giáo viên địa phương đã khẳng định một cách chắc chắn rằng đó là di cốt của người . Cấu trúc khuôn mặt vả hộp sọ của người Neanderthal này hơi có chút khác biệt với người hiện đại ở chỗ : Cung trên lông mày phát triển rất mạnh , trán dô , hộp sọ dẹt ở phía trước và dô ra ở phía sau , vào thời điểm bấy giờ các nhà khoa học đương thời cho rằng những đặc điểm khác biệt đó là do những bệnh lý chứ không nghĩ rằng đó là một loài khác trong chi người . Tuy nhiên càng về những thời gian sau thì những bộ xương giống như người Neantherthal lần lượt được tìm thấy thì vấn đề về người Neantherthal mới được đặt ra và thu hút được khá nhiều sự quan tâm . Theo kết quả của những nhà nghiên cứu nhân chủng học thì người Neanderthal là một loài thuộc chi người đã xuất hiện cách ngày nay vào khoảng 350.000 đến 600.000 năm trước và tuyệt chủng cách ngày nay vào khoảng 50.000 năm ở Châu Á và 30.000 năm ở khu vực Châu Âu . Sự biến mất của người Neanderthal khá đột ngột và không để lại bất kỳ một cá thể nào cho đến ngày nay đã là một thách thức rất lớn đối với các nhà khoa học trong việc nghiên cứu nguồi gốc của loài người nói chung cũng như việc nghiên cứu về người Neanderthal nói riêng . Có thể thấy rằng người Neantderthal có một vị trí rất gần trong sơ đồ tiến hóa với con người , như vậy việc nghiên cứu về người Neanderthal có một vai trò hết sức quan trọng nếu muốn hiểu biết về lịch sử loài người . Về cơ bản như chúng ta đã biết người Neantherthal đã phát triển tới một trình độ khá hoàn chỉnh về cấu trúc cơ thể cũng như về mặt xã hội (tuy chưa tìm được bằng chứng là người Neanderthal có hệ thống ngôn ngữ hay không nhưng có một điều chắc chắn rằng những nhóm người Neanderthal cũng có một kết cấu xã hội khá chặt) . Người neanderthal nhìn chung có một vóc dáng khá cục mịch và có sức mạnh cơ bắp khá lớn . Hình thái của người Neanderthal có những đặc điểm riêng biệt được thể hiện qua cấu trúc bộ xương với những đặc điểm bao gồm Hộp sọ dài và dung tích não bộ giao động từ 1300 đến 1600 cm khối , chân hộp sọ hướng thẳng lên với nhiều lỗ chai xiên , xương chẩm góc nhìn nghiêng có hình cầu chỏm , xương má lớn , hốc ổ mắt có hình bán nguyệt nằm trên sống mũi và gắn liền với xương thái dương , xương hàm trên gắn liền với xương hai gò má , xương cột sống ngắn và to , chi trên (cánh tay ) ngắn đi kèm với một cái đầu khá to , xương quai cánh tay cong hình cán vá , xương chậu nở lớn bè ra trong khung xương chậu , xương ống chân ngắn , xương chi dưới ngắn so với tỉ lệ của xương đùi . Có thể nói chung rằng hình thái của người Neanderthal là lùn , ngực to , vai tròn , dáng hơi khom về phía trước , tứ chi khỏe , mũi rộng và hếch , trán dẹt , những điều đó được chứng minh qua các bộ xương mà các nhà khảo cổ học đã từng tìm được của người Neanderthal , qua các kết cấu của cơ thể chúng ta có thể nhận thấy được có lẽ người Neanderthal có một môi trường sống thích hợp với khí hậu lạnh và những khu vực đồi núi , trong thời gian tồn tại của mình . Người Homo Sapien đã từ quê hương Châu Phi di cư đến khu vực Châu Âu ngày nay và cũng đã từng có thời gian chung sống với người Neantherthal nhưng tại sao người Homo Sapien lại tiếp tục tiến hóa thành người Homo Sapien Sapien như chúng ta ngày nay trong đó người Neanderthal lại bị tuyệt chủng một cách đầy bí ẩn cách đây vài chục ngàn năm ? Phải chăng do những thay đổi về khí hậu , môi trường , điều kiện sinh thái ? hay do những nguyên nhân về sinh học trong cấu tạo cơ thể của người Neanderthal kết hợp với những yếu tố môi trường dẫn đến sự tuyệt diệt của người Neanderthal trên quả đất này ? Hay là một nguyên nhân xã hội nào khác , hoặc do sự phát triển vượt bậc của người Homo Sapien đã tạo áp lực dẫn đến sự tuyệt chủng của người Neanderthal hay là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố ngoại sinh trên đã dẫn đến sự vắng mặt của người Neantherthal cách đây vài chục nghìn năm trên trái đất ? Tất cả những giả thiết đó đều cần được xem xét kỹ lưỡng dưới góc độ khoa học để từ đó chúng ta có thể hiểu rõ hơn về người Neanderthal .

 Những Giả Thiết Về Sự Tồn Tại Và Diệt Vong Của Người Neantherthal

                   Như Chúng ta đã biết người Neanderthal là một loài thuộc chi người đã bị tuyệt chủng cách đây vào khoảng 50.000 năm tại Châu Âu và khoảng 30.000 năm tại khu vực Châu Á . Cách ngày nay 130.000 năm thì người Neanderthal đã có những đặc trưng đầy đủ , thực tế các nhà khoa học hiện nay đã chứng minh rằng trong gene của người Á-Âu có từ 1ª4 % gene của người Neanderthal , như vậy phải chăng đã có sự hòa huyết giữa người Homo Sapien tổ tiên trực tiếp của chúng ta với người Neanderthal ? và cũng chính sự hòa huyết đó dẫn đến việc xát nhập dần dần giữa người Neanderthal và người Homo Sapien để từ đó tạo ra người Homo Sapien Sapien như chúng ta ngày nay . Tuy nhiên đó chỉ là một giả thuyết trong số vô vàn những giả thiết được đưa ra về sự biến mất của người Neanderthal . Một số ý kiến cho rằng người Neaderthal cư trú tại những vùng có khí hậu lạnh do đặc điểm cơ thể (từng có giả thiết cho rằng người Neanderthal có cấu tạo cơ thể thích hợp với khí hậu lạnh hơn so với người Homo Sapiens) . Tuy nhiên trong những năm gần đây , Jerry Van Andel một nhà địa chất học thuộc đại học Cambridge ở Anh cho rằng người Neanderthal hoàn toàn có sức chịu lạnh giống như người hiện đại . Khi con người dầu tiên từ quê hương Châu Phi tới khu vực Châu Âu cách đây khoảng 45.000 năm thì theo các nhà nghiên cứu họ có nhiều nét gần giống với người Neanderthal về mặt văn hóa , ví dụ cả hai đều dùng lửa , dùng đá để tạo công cụ và sử dụng công cụ , chăm sóc người bị thương và thỉnh thoảng đã xuất hiện phong tục chôn người chết . Theo kết quả của các nhà nghiên cứu thì vào thời điểm đó khí hậu khu vực Châu Âu khá ôn hòa , thuận lợi cho sự tồn tại của người Neanderthal .  Tuy nhiên khi khí hậu của khu vực mà người Neanderthal đang sinh sống thay đổi trở nên lạnh hơn thì các loài thú theo bản năng cũng đã di chuyển đến những vùng đồng cỏ ấm áp hơn và có nguồn lương thực dồi dào hơn . Kéo theo sự di cư cùa các loài thú như voi Ma Mút , hươu đỏ v…v.. là sự di chuyển của người Neanderthal theo những con thú đó vốn là nguồn thức ăn chính của người Neanderthal , tuy nhiên trong môi trường khí hậu mới không còn được thuận lợi như trước thì việc săn bắt các loài thú lớn không còn dễ dàng như trước đây , nếu như trong giai đoạn trước địa bàn cư trú của người Neanderthal chủ yếu ở những khu vực núi non việc săn bắt những thú lớn trở nên dễ dàng hơn bởi họ có thế dựa vào địa hình để ẩn nấp tiến sát đến gần con mồi và tiêu diết chúng , nhưng khi những loài thú này đã thay đổi khu vực sinh sống chủ yếu không còn ở những khu vực núi đồi mà chuyển dần xuống những đồng cỏ hay những vùng bán sa mạc thì việc săn bắn lúc này trở nên cực kỳ khó khăn do họ khó có thể tiếp cận được gần con mồi , cũng theo các nhà nghiên cứu ủng họ cho quan điểm này thì người Neanderthal cũng không có những cải tiến về công cụ săn bắt bởi thế năng suất săn bắt trong giai đoạn mới này không cao dẫn đến sự thiếu thốn về lương thực và là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới sự tuyệt chủng của người Neanderthal cách đây khoảng trên dưới 30.000 năm trước . Trong khi đó tổ tiên trực tiếp của chúng ta người Homo Sapiens đã có những bước phát triển về các loại công cụ và các phương thức săn bắn để có được năng suất săn bắn cao hơn và từ đó tạo điều kiến để tiếp tục phát triển tới tân ngày nay . Tuy nhiên giả thiết trên cũng chỉ là một giả thiết trong vô vàn những giả thiết về người Neanderthal bí ẩn , trên thực tế các phát hiện khảo cổ học trên thế giới đã khiến các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến giống người Neanderthal phải luôn đau đầu bởi sự phát triển cũng như diệt vong của người Neanderthal vô cùng phức tạp chứ không phải đơn giản như trước đây con người từng nghĩ . Về vấn đề công cụ lao động của người Neanderthal đã từng sử dụng thì theo nghiên cứu của những chuyên gia người Anh và Mỹ thì những công cụ bằng đá đầu tiên của tổ tiên chúng ta chế tạo không hề có công năng hơn so với những công cụ của người Neanderthal . Công bố trên được in trên tờ Human Evolution đã làm đảo lộn niềm tin từ trước tới nay của các nhà khoa học rằng công cụ lao động có năng suất cao hơn của người Homo Sapiens tổ tiên trực tiếp của chúng ta là một bước phát triển cao và một khác biệt vô cùng to lớn để loài người có thể phát triển đến tận ngày nay thay vì đã tuyệt chủng cách đây vài chục nghìn năm như người Neanderthal ! Thật vậy nhóm nghiên cứu của đại học thuộc Đại học Exeter, Đại học Southern Methodist, Đại học bang Texas và Công ty máy tính Think đã dành 3 năm để chế tạo các dụng cụ bằng đá. Họ đã tái tạo một số công cụ có tên “vảy” (công cụ được sử dụng rộng rãi hơn bởi cả người Nêacdectan và người Homo sapiens) và “lưỡi” (công cụ ít được sử dụng sau này được người Homo sapiens tiếp nhận). Các nhà khảo cổ học thường dựa vào sự phát triển của các lưỡi bằng đá cùng với hiệu quả của nó để làm bằng chứng cho trí thông minh vượt trội của người Homo sapiens. Để chứng thực điều này, nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu để số sánh số lượng các công cụ được sản xuất, bao nhiêu lưỡi sắc được tạo ra, hiệu quả trong việc xử lý nguyên liệu sống cùng với thời gian công cụ được sử dụng.
Công cụ lưỡi được người Homo sapiens tạo ra lần đầu tiên trong giai đoạn lấn chiếm Châu Âu xuất phát từ Châu Phi khoảng 40.000 năm trước. Sự kiện này vốn được coi là tiến bộ kỹ thuật ấn tượng giúp người Homo sapiens vượt trội, cuối cùng đã loại bỏ các họ hàng thời Đồ Đá của họ. Thế nhưng khi nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu lại không tìm thấy sự khác biệt về mặt thống kê nào giữa tính hiệu quả của hai công cụ. Thực tế, họ phát hiện ra rằng trên một số phương diện công cụ vảy được người Nêacdectan ưa chuộng có hiệu quả hơn công cụ lưỡi của người Homo sapiens. Như vậy qua công bố trên chúng ta có thể thấy được rằng những công cụ mà người Neanderthal đã từng sử dụng có công năng không hề thua kém những công cụ của tổ tiên chúng ta người Homo Sapiens . Như thế khả năng tư duy của người Neanderthal cũng cực kỳ phát triển và đạt đến một trình độ cao . Ngoài vấn đề công cụ nghiên cứu trên cũng đã cho thấy người Neanderthal cũng rất giỏi săn bắn và điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải xem xét lại quan điểm từng tồn tại lâu dài rằng người Neanderthal “ngờ nghệch” hơn người hiện đại nên đã bị tuyệt chủng ! Các nghiên cứu mới đây được các nhà khoa học thuộc đại học Zurich (Thụy Sỹ) công bố cho thấy bộ não của người Neanderthal phát triển với tỉ lệ gần như tương đương với người hiện đại từ quan điểm đó đã làm sụp đổ những ý kiến tồn tại từ lâu về sự ưu việt gần như tuyệt đối hóa về não bộ của người Homo Sapiens . Theo kết quả nghiên cứu so sánh giữa sọ của trẻ em Neanderthal và trẻ em ngày nay các nhà nghiên cứu nhận thấy sọ của trẻ em Neanderthal lớn hơn một chút so với sọ của trẻ em hiện đại , tương tự sọ của người Neanderthal trưởng thành cũng lớn hơn một chút so với người Homo Sapiens Sapiens trưởng thành , tuy vậy hộp sọ của người Neanderthal và người Homo Sapiens gần như tương đương với nhau . Như vậy cả hai giống người Homo Sapiens và Neanderthal có một mối quan hệ rất gần gũi và có một trình độ phát triển gần như tương đương với nhau , chính vì thế việc tìm ra nguyên nhân khiến người Neanderthal hoàn toàn bị loại ra trong con đường tiến hóa của mình sẽ là một thách thức vô cùng to lớn đối với những nhà nghiên cứu bởi càng ngày chúng ta lại càng tìm được nhiều bằng chứng hơn nữa về sự tiến bộ vượt bậc của người Neanderthal so với những con người nguyên thủy về nhiều khía cạnh .  Tuy vậy lịch sử vẫn đặt dấu chấm hết ở những người Neanderthal cuối cùng , Vậy thì do đâu mà họ tuyệt chủng ?  Các phát hiện ngày trong khoảng thời gian gần đây mang đến cho giới khoa học nhiều điều thú vị về giống người Neanderthal cổ xưa chẳng hạn như việc nghiên cứu về nguồn thức ăn của họ . Một khám phá gần đây cho thấy nguồn thức ăn của người Neanderthal không chỉ là những loài động vật sống trên cạn , những động vật sống dưới nước cũng có thể là nguồn cung cấp thực phẩm cho người Neanderthal cụ thể những sinh vật sống dưới nước mà các nhà nghiên cứu cho rằng đã từng là nguồn cung cấp thực phẩm cho người Neanderthal đó chính là cá voi và hải cẩu . Các nhà khỏa cổ học đã phát hiện những tàn tích xương của cá voi và hải cẩu trong những nơi cư trú của những gia đình người Neanderthal cổ đại bằng chứng đó tuy chưa thể khẳng định chắc chắn hoàn toàn nhưng phần nào cũng cho chúng ta thấy được những nguồn thức ăn có thể của người Neanderthal trong quá khứ và cũng từ đó chúng ta lại một lần nữa thấy rằng người Neanderthal trong quá khứ hoàn toàn là một giống người có khả năng cạnh tranh đáng gờm đối với tổ tiên của chúng ta . Một giả thiết khác nữa cũng được các nhà nghiên đưa ra về khả năng tuyệt chủng của người Neanderthal là do họ bị tổ tiên chúng ta (người Homo Sapiens) ăn thịt . Tuy nhiên ý kiến này đã làm rộ lên những cuộc tranh luận trong giới các nhà khoa học . Các nhà nghiên cứu người Pháp ủng hộ giả thiết trên mà trong đó tiêu biểu là Fernando Rozzi . Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pari cho biết : “Những người Neanderthal đã gặp phải một kết thúc đầy hung bạo bởi bàn tay người hiện đại, ở trong các hang động, chúng ta đã ăn thịt họ”. [1] Nhà nghiên cứu này tin rằng những chiếc xương hàm mà họ tìm thấy có những vết tác động của ngoại lực mà có thể đó chính là những vết cắt hay chặt để làm thức ăn cho người hiện đại . Một đặc điểm được các nhà nghiên cứu quan tâm đó chính là những dấu vết để lại trên những mẫu xương của người Neanderthal cũng khá giống với những dấu vết tìm thấy trên xương của các loài hưu nai , bằng chứng đó càng góp phần ủng hộ thêm cho quan điểm của các nhà nghiên cứu cho rằng người Neanderthal bị tuyệt chủng là do bị ăn thịt bởi người Homosapiens . Tuy nhiên giả thiết trên cũng gặp phải khá nhiều những phản đối từ phía các nhà nghiên cứu khác ví dụ như giáo sư Francesco d’Errico, Viện Tiền sử học Bordeaux, Pháp, cho rằng: “Chỉ một vài dấu hiệu của các vết cắt không thể tạo nên bằng chứng đầy đủ được”. Theo ông, con người có thể tìm thấy xương của người Neanderthal và sử dụng răng của họ để làm một chiếc vòng cổ. Do đó quan điểm rằng người Neanderthal bị người hiện đại thôn tính một cách đầy bạo lực như thế xem ra cũng cần phải xem xét lại . Chúng ta không nên nhìn một vài sự vật hiện tượng mà từ đó đi đến những kết luận khi chưa có những bằng chứng cụ thể ! Người Homo Sapiens cũng có thể đã giết chết và ăn thịt người Neanderthal (tục ăn thịt người cũng đã từng xảy ra ngay trong xã hội của người Homo Sapiens Sapiens) . Tuy nhiên những trường hợp đó chỉ là những trường hợp cá biệt hoặc lẻ tẻ chúng ta chưa có một bằng chứng cụ thể nào chứng minh được rằng những hành động ăn thịt người Neanderthal của người hiện đại là một hệ thống và đây là một nguyên nhân chính dẫn đến sự tuyệt chủng của người Neanderthal . Bên cạnh những giả thiết về sự biến mất của người Neanderthal như đã nêu ở trên thì một quan điểm khác xem chừng có vẻ đơn giản hơn nhiều đã giải thích sự biến mất của người Neanderthal trên trái đất là do số lượng áp đảo của người hiện đại mà theo các nhà nghiên cứu thì số lượng người hiện đại trong thời điểm bấy giờ đông hơn số lượng người Neanderthal gấp 10 lần và họ cũng chiếm một địa bàn sinh sống gấp 10 lần so với người Neanderthal từ đó có thể thấy rằng người Neanderthal là một đối thủ cạnh tranh rất nặng ký đối với người Neanderthal , nguồn thức ăn dần cạn kiệt và môi trường sống cũng dần bị thu hẹp người Neanderthal trở nên co cụm lại trước sự bành trướng cả về số lượng lẫn địa bàn sinh sống , và phải chăng những bộ xương của người Neanderthal có những dấu vết tác động của ngoại lực như đã trình bày ở trên chính là kết quả của một cuộc tự thôn tính lẫn nhau trong cộng đồng người Neanderthal khi mà lương thực ngày một cạn dần , họ đã phải ăn thịt lẫn nhau để duy trì sự sống chăng ? Đó có lẽ cũng là một giả thiết cần quan tâm tìm hiểu sâu hơn . Bên cạnh những giả thiết trên thì có một số quan điểm khác cho rằng đã có những vụ nổ xảy ra trong những khu vực mà người Neanderthal đã từng sinh sống và đó chính là nguyên nhân khiến cho người Neanderthal bị biến mất hoàn toàn khỏi trái đất , tuy nhiên quan điểm này cũng không có những bằng chứng cụ thể để ủng hộ . Chúng ta cần cập nhật một số thông tin mới mà các nhà khảo cổ học trong những năm gần đây đã dầy công nghiên cứu về người Neanderthal chẳng hạn như thông tin của những nhà khảo cổ học thuộc đại học Bristol khi nghiên cứu những chiếc vò sò tại một bờ biển thuộc Tây Ban Nha . Theo đó các vỏ sò này có chứa một số loại sắc tố màu mà theo như những nhà nghiên cứu thì người Neanderthal từng dùng những chiếc vỏ sò này như một vật để đựng đồ trang điểm ! Và cũng theo các nhà nghiên cứu thuộc đại học Bristol thì không chỉ có người hiện đại là biết cách trang điểm mà người Neanderthal cũng thường trang điểm trong các dịp lễ hội . Những bột mầu mà các nhà nghiên cứu tìm được chủ yếu là các khoáng chất như : lepidocrocite, hematite và pyrite. Trong bột màu vàng người ta còn tìm thấy chất natrojarosite tinh khiến - một loại khoáng chất được sử dụng để chế tạo ra mỹ phẩm của người Ai Cập cổ đại. Bột màu đen là loại bột mà người Neanderthal ở Châu Phi sử dụng để sơn cơ thể . Không chỉ có vậy các công cụ đá mà người Neanderthal chế tạo cũng rất tinh xảo điều đó càng khiến cho chúng ta khâm phục hơn về khả năng tư duy của họ . Trong cuốn sách : “Nhân Chủng Học Khoa Học Về Con Người”  của tác giả E.ADAMSON HOEBEL , trong bài viết về người Neanderthal tác giả đã trình bày một phần về nền văn hóa thời Lavalloiso- Mousterian của người Neanderthal như sau : “ Những công trình và các nền văn hóa truyền bá một cách rộng rãi trong những quần thể người Neanderthal đã đạt đến đỉnh điểm phát triển về công nghệ cũng như cách sống trong các thời trung và hậu kỳ đồ đá cũ . Họ đã trở thành người nhưng chưa đột phá qua trình độ đa dạng của kỹ thuật tìm kiếm lương thực . Tuy nhiên họ cũng đá có những cải tiến kỹ thuật quan trọng về các loại dụng cụ làm bằng đá lửa và mang theo hoặc tạo ra lửa ở bất kỳ nơi nào họ đến . Nhờ lửa họ có thể họ có thể xua đuổi và làm cho các loài thú săn mồi to lớn và tàn ác không dám bén mảng gần những chòi đá mà họ trú ngụ trong những đêm mưa bão . Nhờ lửa họ cũng không bị chết cóng trong thời tiết đa phần là lạnh giá khắc nghiệt . Cũng với lửa họ làm ra loai vũ khí tin cậy và ưa thích của mình : những cây giáo bằng gỗ bịt một đầu nhọn và cứng . Với các mũi nạo đá lửa , họ lột da các loài thú để chế biến quần áo che thân . Họ đã sữ dụng những mũi nạo này như thế nào chúng ta cũng chưa đoán ra được . …. Mặc dù có những cải tiến thực sự về mặt kỹ thuật , nhưng các công cụ của người Neanderthal cơ bản vẫn là những công cụ của những tiền nhân thuộc thời Chellean và Clactonian của hơn 50.000 năm trước . Họ vẫn chưa biết chế tạo xương thành những dụng cụ khác ngoài những dụng cụ dùng để chặt sẻ bằng sức lực . Họ cũng chưa biết cách tra cán cho các loại giáo , mác . Nhưng họ đã có một bộ não lớn , đôi bàn tay linh hoạt .”  Bên cạnh đó khi nghiên cứu những vết tích của người Neanderthal còn để lại cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu đã phát hiện được sự ang táng người chết trong các hang động đặc biệt , một hình thức phản ảnh sự hé lộ một niềm tin vào cái cốt lõi tâm linh và cũng là một thuộc tính của con người . Như thế theo quan điểm của E.ADAMSON HOEBEL thì người Neanderthal cũng đã có một trình độ tiến hóa cao và đã có những đặc trưng trong việc chế tạo công cụ cho mình , tuy nhiên cũng tại phần công cụ này tác giả đã cho thấy những hạn chế trong công cụ mà người Neanderthal đã từng sử dụng , như vậy phải chăng công cụ là một phần quan trọng trong việc người Neanderthal bị tận diệt ? Bên cạnh giả thiết đó thì một giả thiết mới về sự diệt vong của người Neanderthal cũng đã được các nhà nghiên cứu đề xuất tới và cũng đang thu hút khá nhiều sự quan tâm của giới khoa học đặc biệt là nghành nhân chủng học . Theo đó dưới ánh sáng của khoa học kỹ thuật và công nghệ các nhà nhiên cứu đã chứng minh được rằng trong gien của người hiện đại thuộc những chủng Á-Âu ngày nay thì tỉ lệ gien của người Neanderthal chiếm một số lượng khoảng từ 2ª4 % . Như vậy cánh cửa bí ẩn về người Neanderthal phần nào đã được hé mở . Một giả thiết mới được xác lập trên cơ sở những bằng chứng trên là người Neanderthal và tổ tiên của chúng ta người Homo Sapiens đã có sự hòa huyết với nhau ? Quan điểm đó hoàn toàn có thể tin được bởi những kết quả nghiên cứu về gien đã thuyết phục chúng ta với quan điểm đó ! Các nhà nghiên cứu Rumani và Mỹ đã xác định được những xương cốt hoá thạch tìm thấy ở động Petera Muierii (Rumani) có niên đại khoảng 30.000 năm trước - giai đoạn mà giống người Neanderthal và Homo sapiens còn song song tồn tại. Trong khi phần lớn hình dạng các bộ xương đều giống con người hiện đại, nhiều chi tiết lại mang đặc điểm của giống người Neanderthal - đặc biệt là hình dáng xương hàm dưới và phía sau hộp sọ . Nhà nhân chủng học Erik Trinkaus của Đại học Washington thuộc nhóm nghiên cứu này cho biết: "Xương hàm của giống người Neanderthal có những đặc tính giải phẫu học riêng biệt, không liên quan đến việc tiến hoá của xương hàm con người hiện đại khi chuyển từ săn thịt sống sang thịt nấu chín". Những khớp xương vai của những bộ xương người tiền sử ở Rumani cũng chưa phát triển hoàn thiện, không thể nào thực hiện những động tác xoay vòng cánh tay để phóng lao, bắn tên hay ném đá. Theo Trinkaus, những đặc điểm này thấy rõ trong những hoá thạch người Neanderthal và những giống người đầu tiên từ cả triệu năm trước . Giả thiết về sự hòa huyết nêu trên cũng sẽ trở nên vô cùng tuyệt vời đối với sự tồn tại của các thế hệ con lai về sau bởi vì các thế hệ con lai về sau sẽ có những gien trội từ hai loài giúp cho cơ thể thích nghi hơn và hoàn thiện hơn .  Những ưu điểm của người Neanderthal sẽ được lưu lại khi chủng loài này biến mất .
                   Như vậy có nhiều giả thiết khác nhau về sự biến mất của người Neanderthal trái trái đất cách đây khoảng hơn 30.000 năm , tuy nhiên để hiểu vấn đề một cách cặn kẽ và khoa học về sự tuyệt chủng của giống người này cần phải có những bằng chứng khoa học rõ nét hơn trong thời gian tới vấn đề này đòi hỏi nhiều công sức cũng như tâm huyết của những nhà nghiên cứu trên thế giới . Theo ý kiến của cá nhân em thì sự biến mất của người Neanderthal cần phải được xem xét từ nhiều góc độ cũng như cân nhắc nhiều khả năng khác nhau cùng lúc đã tác đông dẫn đến sự diệt vong của người Neanderthal . Có thể do địa bàn sinh sống ngày càng bị thu hẹp , nguồn lương thực dần bị cạn kiệt do sự cạnh tranh của người Homo Sapiens và kết hợp cả với cả khả năng họ đã giao phối với người Homosapiens để người Homo sapiens tiếp tục tiến hóa thành người Homo Sapiens Sapiens như chúng ta ngày nay . Rồi những điều kiện tự nhiên không còn phù hợp với người Neanderthal nữa khiến họ dần dần bị loại khỏi cuộc cạnh tranh với người Homo Sapiens , thế nhưng những gen di truyền vẫn được gìn giữ ngay trong gen của người hiện đại chúng ta ngày nay là một bằng chứng khoa học không thể chối cãi về mối quan hệ gần gũi giữa chúng ta , tổ tiên chúng ta với người Neanderthal .
Tài Liệu Tham Khảo
E.ADAMSON HOEBEL , Nhân Chủng Học Khoa Học Về Con Người , NXB Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh (2007)
G.N.Machusin , Nguồn Gốc Loài Người , NXB Khoa Học Và Kỹ Thuật Hà Nội



































[1] http://www.khoahoc.com.vn/khampha/khao-co-hoc/23814_Nguoi-Neanderthal-tuyet-chung-vi-bi-nguoi-tinh-khon-an-thit.aspx