Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Đình Thông Tây Hội

                                                       Đình Thông Tây Hội, Quận Gò Vấp

          Thế kỷ XVI – XVII là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử của dân tộc, chịu ảnh hưởng bởi xu thế phát triển cũng như nhu cầu khai hoang mở rộng lãnh thổ đương thời, những lưu dân vùng Thuận – Quảng đã dong buồm hướng về phương Nam vốn là một vùng đất trù phú còn rất hoang sơ và ẩn chứa nhiều điều bí ẩn.

Khu vực Nông Nại (Đồng Nai hiện nay) và vùng đất Gia Định là một trong những nơi ghi dấu chân rất sớm của những lưu dân đi khai hoang lập ấp. Vượt qua bao nhiêu sóng gió, khó khăn và thử thách, những lưu dân này đã bắt đầu một cuộc sống mới tại những vùng đất mà sau này trở thành những khu đô thị lớn như Sài gòn, Đồng Nai, Mỹ Tho…v…..v…. như ngày nay. Ngay từ khi còn “chân ướt chân ráo” trên vùng đất phương Nam đầy bí hiểm, một nhu cầu không thể thiếu được đối với những lưu dân đó chính là nhu cầu về tín ngưỡng tâm linh !

Trước một vùng đất mới với đầy rẫy những hiểm nguy và bí ẩn thì nhu cầu đó cũng là điều dễ hiểu, bên cạnh đó do sự kết hợp, kế thừa những truyền thống văn hóa - tín ngững vốn có của cư dân xứ Thuận – Quảng nên việc hình thành những ngôi đình, chùa là một hệ quả tất yếu của lịch sử trên mảnh đất mới lắm phù sa và ưu đãi củathiên nhiên. Mảnh đất Sài Gòn – Gia Định hơn 300 năm tuổi có rất nhiều những đình, chùa, miếu võ, nhưng có lẽ tiêu biểu hơn cả về mặt thời gian cũng như về kiến trúc cổ còn được lưu giữ đến tận ngày nay thì phải kể đến đình Thông Tây Hội quận Gò Vấp .

Đình Thông Tây Hội tại khu vực quận Gò Vấp hiện nay là một ngôi đình cổ có tiếng không chỉ ở khu vực Sài Gòn – Gia Định mà còn ở khắp khu vực Nam Bộ về thời gian cũng như những nét kiến trúc cổ còn được lưu giữ lại đến tận ngày nay dù rằng thời gian cũng đã làm cho ngôi cổ đình ít nhiều gặp phải những hư hại khách quan. Đình tọa lạc tại khu vực quận Gò Vấp, xưa là một vùng đồi gò khá cao (đất gò triền chiếm 80% diện tích) đây là vùng có địa thế khá thuận lợi nằm bên hữu ngạn sông Sài gòn, thuận lợi cho việc giao thông bằng đường thủy lại thêm không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng nhiễm mặn và có lượng nước ngầm dự trữ lớn. Đất phù sa nhiều, không cần tốn nhiều công sức để cải tạo đất. Chính những yếu tố thuận lợi đó nên từ rất sớm vùng đất này đã là nơi hôi tụ của những người dân đến khai hoang lập ấp. Từ trước khi quan kinh lược Nguyễn Hữu Cảnh đến thiết lập bộ máy hành chính đầu tiên tại khu vực Nam Bộ (1698) thì Gò Vấp đã có khá nhiều những thôn, xóm, làng, ấp…….. của những lưu dân quần cư cạnh nhau. Theo những nguồn tư liệu xưa mà người viết có được xã Hạnh Thông là xã đầu tiên được ra đời tại khu vực Gò Vấp. Theo thời gian, dân số tăng lên nên tách ra thêm là Hạnh Thông Tây, về sau Hạnh Thông Tây sát nhập với làng An Hội thành xã Thông Tây Hội. Ngoài ra khu vực Gò Vấp xưa còn có thêm xã An Nhơn, xét trên địa vực hành chính xưa thì Gò Vấp thuộc tổng Bình Trị, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An (cơ cấu hành chính hoàn chỉnh như trên ra đời từ năm Gia Long thứ 6 “1807”). Khu vực Gò Vấp thời bấy giờ rộng lớn hơn nhiều so với diện tích hành chính hiện nay. Như vậy là từ rất sớm, tại khu vực Gò Vấp cư dân đã tụ tập hình thành nên những làng xóm đông đúc và nhộn nhịp. Theo lệ truyền thống của văn hóa Việt Nam hễ cứ có làng, xã là sẽ có đình, chùa. Ngôi đình Thông Tây Hội được xây dựng cũng trong hoàn cảnh ấy .

Đình Thông Tây Hội được xây dựng vào khoảng năm 1679 trên một vùng đất gò cao. Trước năm 1944 đình còn được gọi là đình làng Hạnh Thông Tây. Theo một số tài liệu xưa thì đã từng có hai nơi được chọn để xây dựng đình, theo đó ngôi đình đầu tiên không phải ở vị trí hiện nay mà được xây dựng tại khu vực phía nam chợ Hạnh Thông Tây. Ngôi đình này có kết cấu đơn giản tuy nhiên theo thời gian cộng với sự bùng nổ của việc phát triển dân cư, ngôi đình đầu tiên hiện nay đã không còn tìm thấy được vết tích gì. Ngôi đình hiện nay được xây dựng ở vào vị trí phía Bắc chợ Hạnh Thông Tây và cách chợ khoảng 700m. Đình Thông Tây Hội cũng như các đình khác tại Việt Nam được xây dựng với mục đích thờ thần Thành Hoàng vị thần vốn được xem như người bảo vệ cố hữu trong văn hóa làng xã của Việt Nam.

           Đình Thông Tây Hội có diện tích nguyên thủy khoảng hơn 5000m2 diện tích xây dựng là “761m2”[1] tuy nhiên do sự lấn chiếm của người dân xung quanh nên hiện tại khuôn viên của đình chỉ còn lại khoảng 1500m2. Cổng đình nằm trên đường Thống Nhất hiện nay được xây dựng theo kiểu Tam Quan bằng tường gạch quét vôi màu vàng. Phía trên cổng có cặp lưỡng long tranh châu bằng gốm xanh, được tạo tác tỉ mỷ đem lại giá trị mỹ thuật cao.  Hai bên cổng đình có khắc nổi cặp câu đối bằng chữ hán. Sau cổng đình là một khoảng sân đình rộng lớn với những cây cổ thụ lâu năm tỏa bóng mát làm cho khuôn viên đình có được sự trầm mặc, cổ kính và uy nghiêm của một ngôi cổ đình.
Khu vực sân đình bao quanh khu vực kiến trúc làm cho đình luôn thoáng mát và có độ hòa hợp cao với thiên nhiên. Khu vực sân đình còn có các công trình kiến trúc nhỏ khác như miếu ngũ hành và bia ông hổ.  Đình Thông Tây Hội có bốn sân bao gồm sân trước, sân sau, sân hông phải và sân hông trái. Với kết cấu như vậy đình Thông Tây có được sự hòa hợp giữa phần kiến trúc xây dựng và cảnh trí xung quanh. Trong phần kiến trúc xây dựng của đình, đầu tiên phía trước chính điện là nhà Võ Ca[2]. Xét về quy mô kiến trúc thì nhà Võ Ca có kiến trúc nhỏ hơn chánh điện và nhà Hội Sở, được kết cấu bằng những cột gỗ sao với hệ thống vì kèo cũng được làm bằng gỗ, bên dưới các cột được tấn đá. Võ Ca có chiều ngang 14m sâu 17,5m và cao 4m. Nhà Võ Ca bao gồm 7 nếp nhà với những chức năng cụ thể của từng gian bao gồm : buồng hát, sàn diễn, nhà chầu, nhà chiêng, nhà mõ….là nơi diễn ra các hoạt động văn nghệ trong các dịp lễ hội của đình.

Sau Võ Ca là Chính Điện, đây là phần quan trọng nhất của đình. Chính điện được dựng lên bằng hệ thống cột gỗ với đường kính khá lớn từ 25cm đến 50cm, những vì kèo với chức năng kết cấu chịu lực cũng được làm bằng gỗ với những đường nét trạm trổ tinh xảo, môtip tạo hình uyển chuyển giữa rồng và mai tạo nên giá trị thẩm mỹ cao. Phần mái chính điện gồm hai mái nhà được dựng lên hình thành nên vẻ uy nghi, to lớn và được lợp bằng ngói âm dương phía trên có tượng lưỡng long tranh châu bằng sứ xanh. Đây là dạng motip trang trí thường thấy trong các kiến trúc đình tại Nam Bộ. Chính điện có kích thước chiều ngang là 12m, chiều dài 16,5m chiều cao 5,1m .  Bên trong chính điện gồm 48 cột gỗ chia làm 8 hàng, mỗi hàng bao gồm 6 cột. Kết cấu của chính điện theo bình diện hình chữ nhật, chính giữa điện dựng 4 cột lớn theo dạng tứ trụ, toàn bộ hệ thống cột và vì kèo được làm bằng loại gỗ sao, vốn là loại gỗ khá phổ biến tại khu vực Nam Bộ trong thời kỳ đấy. Loại gỗ này rất bền và thực tế đã chứng minh, những cột gỗ tại đình Thông Tây Hội tuy có xuống cấp sau thời gian mấy trăm năm tồn tại nhưng khả năng chống đỡ và chịu lực cũng vẫn rất tốt. Phía dưới chân cột được kê bằng những tấm đá tròn tạo sự vững chắc cho toàn bộ kết cấu. Xung quanh chính điện được xây tường với mục đíc che mưa, nắng và để giảm lượng ánh sáng lọt vào chính điện bởi nơi thờ thần linh ngự cần hạn chế ánh sáng để tạo vẻ uy nghi .

Bên trong chính điện tại nơi nghiêm nhất có đặt bàn thờ của thần Thành Hoàng. Thần Thành Hoàng được thờ trong đình là Đông Chiêu Vương và Dực Thánh Vương vốn là hai người con trai của Vua Lý Thái Tổ có nhiều công lao trong việc mở mang và giữ vững bờ cõi được nhân dân tôn làm thần Thành Hoàng. Trên bàn thờ là khám thờ thần thành hoàng. Khám thờ này tại đình Thông Tây Hội được làm bằng gỗ chạm khắc rất tinh xảo với các đồ hình như lưỡng long tranh châu và các hình hoa lá, chim muông được tạo tác sống động với phong cách tả thực, mộc mạc nhưng không kém phần đẹp đẽ, sinh động, tất cả đều được sơn son thiết vàng thể hiện sự tôn kính của hậu thế đối với các tiền nhân “Sinh vi tướng tử vi thần”. Phía trên khám thờ thần là bức hoàng phi có ba chữ hán “Kính Như Tại”. Hai bên khám thờ thần Thành Hoàng là hai khám thờ thần nhỏ khác đó là Tả Ban và Hữu ban được quan niệm là làm công việc phụ giúp cho thần, hai ban thờ này cũng được chạm khắc và trang trí tinh xảo trong từng đường nét thể hiện. Phía trước ba ban thờ đều có ba hương án, phía trên bày bộ tam sự gồm có một lư đồng và hai chân đèn, mỗi bộ đều có thêm một bát nhang. Phía trước ban thờ còn có một cặp hạc được làm bằng gỗ cao 1m6 dáng hình thanh mảnh đường nét rất tinh tế được đứng trên một cặp rùa tạo nên sự uy phong, vững chắc, với ý nghĩa trường tồn cho chính điện.

Bên trong chính điện tăng thêm phần rực rỡ vì còn được trang trí bởi những câu đối được làm bằng thân cây dừa được sơn son và viết theo lối chữ  Hán phồn thể với mầu mực đen làm nổi bật tính trang trí trong điện. Hai bên chính điện còn có sáu bệ thờ khác ở vị trí đối diện nhau. Những bệ thờ này là bệ thờ của các “Tiền Hiền, Hậu Hiền” là những người có công gây dựng và mở mang nên vùng đất trù phú này. Ngoài ra còn có các bàn thờ của những anh hùng liệt sỹ đã hi sinh cho quê hương đất nước và còn cả bàn thờ Bạch Mã . Chính điện gồm có một cửa chính và bốn cửa phụ, thường thì cửa chính chỉ mở vào những dịp lễ hội còn cửa phụ thì mở thường nhật cho người dân vào viếng. Phía bên trái nhà chính điện là nhà Hội Sở, hiện là nơi làm việc của ban quản trị đình. Một điểm khá đặt biệt của nhà Hội Sở ở đình Thông Tây Hội là nhà Hội Sở lớn hơn chính điện, tuy nhiên nhà hội sở ở phía bên trái chánh điện và có kết cấu không công phu, cầu kỳ như chính điện. Bình diện Hội Sở của đình Thông Tây Hội có dạng hình chữ nhật với kích thước chiều ngang 12m, chiều dài 19m, chiều cao 4,2m (chiều cao thấp hơn chính điện). Nhà Hội Sở được lợp bằng ngói âm dương theo kiểu mái “Trùng thiềm điệp ốc” có 3 mái (chính điện có 2 mái) số cột gỗ trong nhà Hội sở là 56 cột cũng được kê trên những tảng đá xanh, diện tích xây dựng là 228 m2  . Phía bên phải của chính điện là miếu Bà Chúa Xứ . Miếu bà chúa xứ có kích thước chiều ngang 9,3m x dài 9,6m x cao 4,2m . Ngoài ra chung quanh khu vực kiến trúc chính của đình còn có một số công trình kiến trúc phụ và tương đối nhỏ gồm có bình phong Ông Hổ vốn rất thường thấy trong các kiến trúc đình ở Nam bộ. Bia Ông Hổ tại đình được đắp nổi với những đường nét tả thực hình thiên nhiên sông núi rất bình dị và quen thuộc trong những ngôi đình miền nam . Hai bên bia Ông Hổ là Miếu Bạch Hổ và miếu Ngũ Hành nhìn chung kích thước miếu cũng khá nhỏ .

Đình Thông Tây Hội là một ngôi đình được xếp vào dạng cổ xưa của khu vực Sài Gòn – Gia Định nói riêng cũng như ở khu vực Nam bộ nói chung . Kiến trúc của đình còn giữ được khá nguyên vẹn nét kiến trúc truyền thống của khu vực Nam Bộ trong những giai đoạn đầu của công cuộc khai phá miền đất mới. Chính vì thế việc bảo tồn những nét kiến trúc của đình Thông Tây Hội là một việc quan trọng, sự hủy hoại của thời gian cũng như quá trình đô thị hóa một cách nhanh chóng đã ít nhiều ảnh hưởng tới kiến trúc và cảnh quan của đình. Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu và bảo tồn những ngôi đình trên địa bàn tp.HCM nói riêng cũng như trong phạm vi cả nước nói chung có một vai trò rất quan trọng và cần được quan tâm đầu tư, nghiên cứu và xúc tiến một cách khẩn trương, toàn diện .

Tài Liệu Tham Khảo

Lê Sơn, Hội Đình Thông Tây Hội Gò Vấp Trong Bối Cảnh Hội Đình Nam Bộ, Luận Án Phó Tiến Sĩ Khoa Học Lịch Sử, TP. Hồ Chí Minh 1996

Nguyễn Đức Hiếu, Tìm Hiểu Văn Hóa Tâm Linh Nam Bộ, NXB Trẻ 2004





[1] Theo : Lê Sơn, Hội Đình Thông Tây Hội Gò Vấp Trong Bối Cảnh Hội Đình Nam Bộ, Luận Án Phó Tiến Sĩ Khoa Học Lịch Sử, TP. Hồ Chí Minh 1996
[2] Võ Ca là nơi diễn ra các hoạt động tuồng chèo thường thấy trong các dịp lễ hội truyền thống tại đình 

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Chùa Giác Lâm



                                                                                                                                                                                               Chùa Giác Lâm 


Là một ngôi cổ tự trầm mặc được đánh giá có tuổi đời lâu nhất tại TP. Hồ Chí Minh, chùa Giác Lâm hiện nay tọa lạc tại số 118 đường Lạc Long Quân phường 10, Quận Tân Bình .

Chùa được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1744 do một người Minh Hương tên là Lý Thụy Long quyên tiền xây dựng. Do những biến động lịch sử của Trung Quốc nên trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII có rất nhiều người Trung Hoa theo phong trào “phản Thanh phục Minh” đã rời bỏ quê hương để đi lưu vong tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Khi rời xa cố quốc, một hành trang không thể thiếu được đối với họ chính là văn hóa – tín ngưỡng. Chính vì lẽ đó, khi sang Việt Nam lập nghiệp, những hoa kiều này đã tự bỏ hoặc quyên tiền xây dựng khá nhiều những ngôi miếu, chùa trên vùng đất mới, và đó dường như cũng trở thành một truyền thống của nhóm cư dân này tại tất cả mọi nơi trên thế giới, qua đó đã ít nhiều góp phần tạo nên những công trình kiến trúc có giá trị cả về thẩm mỹ lẫn tín ngưỡng - tôn giáo.   

Chùa Giác Lâm cũng được xây dựng trong bối cảnh như đã trình bày ở trên, chùa được xây dựng trên một gò đất khá cao giữa một rừng cây xanh, cổ thụ tỏa bóng rộng bát ngát, tạo nên một cảm giác thật an lành hạnh phúc. Cái tên “Giác Lâm” phải chăng cũng gợi nên sự giác ngộ nơi chốn rừng thiêng thanh tịnh ?  Chắc hẳn Lý Thụy Long xưa kia đã xem xét rất kỹ về thế đất cũng như các điều kiện thiên nhiên hữu tình nơi đây rồi mới cho xây dựng chùa. Trong khoảng năm từ 1744 đến 1774 ngôi chùa không có người trụ trì. Năm 1774 thiền sư Viên Quang về trụ trì chùa và là vị trụ trì đầu tiên của chùa .

Ngôi cổ tự trên đã trải qua một số lần trùng tu lớn trong những khoảng thời gian cụ thể vào những năm 1798 – 1804, 1900 – 1909, 1939 – 1945, 1992 – 1993. Trải qua nhiều lần trùng tu những ảnh hưởng của các nền văn hóa bên ngoài đã du nhập và để lại dấu ấn trong một số đường nét kiến trúc của ngôi cổ tự, tuy nhiên những nét kiến trúc cổ truyền thống của người Việt, Hoa vẫn được bảo tồn cho đến tận hôm nay.  

Chùa Giác Lâm có thể được coi như một ngôi chùa tiêu biểu về mặt kiến trúc, cũng như cách thức phối tượng, nghệ thuật trang trí Phật giáo đại thừa tại khu vực Sài Gòn – Gia Định. Ngôi cổ tự trầm mặc cùng thời gian này từ lâu đã thu hút rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước trên nhiều lĩnh vực đặc biệt dưới khía cạnh tôn giáo và kiến trúc cổ !  

Theo kiến trúc ban đầu, chùa không có cổng Tam Quan thể hiện lối tư duy thoáng đạt của người dân vùng Nam Bộ trong giai đoạn đầu khai khẩn miền đất mới. Cổng Tam Quan của chùa hiện nay là một công trình kiến trúc mới được xây dựng vào năm 1955 với những chất liệu xây dựng hiện đại. Ngoài ra trên cổng “nhị quan” của chùa được xây dựng vào những thập niên 30, 40 của thế kỷ XX còn thể hiện rõ sự giao lưu với các yếu tố văn hóa bên ngoài qua những họa tiết trang trí có màu sắc văn hóa Ấn Độ như đầu rắn Naga, cặp sư tử trong tư thế chầu tại góc cổng. Bên cạnh đó, do những đổi thay của lịch sử trong giai đọan nửa sau thế kỷ XIX, nên các  yếu tố trang trí mỹ thuật của văn hóa phương Tây đã được thể hiện qua các cột trụ và chân cổng tạo nên một vẻ sinh động, tài tình trong các đường nét mỹ thuật. 

Qua khòi cổng Tam Quan là tới khuôn viên sân, vườn chùa Giác Lâm. Không gian này rất rộng lớn với những cây cổ thụ lâu năm tỏa bóng mát làm dịu đi cái không khí nóng bức vốn thường thấy tại vùng Nam Bộ. Bước vào sân vườn chùa chúng ta có cảm giác như lạc vào một cõi hư ảo, huyền bí của nơi đất Phật. Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức đã có những lời ca tụng phong cảnh của Giác Lâm Tự như sau : “Chùa ở trên gò Cẩm Sơn, cách phía tây Lũy Bán Bích 3 dặm…., cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà cõ nhã khí”[1]. Lời khen của Trịnh Hoài Đức quả thật không sai. Toàn bộ kiến trúc cổ kính của ngôi chùa nằm lẩn khuất sau những tán cây xum xuê như trầm mặc, thanh tĩnh hơn cùng với thời gian, năm tháng. Ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có nhiều mộ tháp của những trụ trì, tăng sỹ đã từng tu tập tại chùa .

Xét trên tổng thể kiến trúc thì chùa Giác Lâm có dạng kiến trúc hình chữ Tam, với kết cấu khung sườn cũng như hệ thống vì kèo được làm bằng các loại gỗ danh mộc tốt, phần mái chùa lợp ngói âm dương, dáng mái dốc và không có dạng đầu đao phù hợp để thoát nước trong những trận mưa lớn tại vùng đất Nam Bộ. Từ phía sân chùa vào, phần kiến trúc đầu tiên là chính điện, ngay sau chính điện là nhà giảng đường, hai mái chính điện và giảng đường được nối với nhau theo kiểu xếp đọi thường thấy trong các ngôi chùa ở Nam Bộ tạo nên sự nguy nga, rộng lớn trong tổng thể kiến trúc chung của chùa. Tiếp nối giữa nhà Giảng và Nhà trai là một khoảng sân thiên tĩnh để lấy ánh sáng tự nhiên vốn là một motip quen thuộc trong kiến trúc chùa Việt Nam .

Chùa Giác Lâm được dựng lên với hệ thống khung sườn và vì kèo bằng gỗ theo kết cấu đâm trính, cột kê. Chùa được dựng lên bởi 98 cột gỗ tạo nên sự vững chắc trong toàn bộ kiến trúc. Những cột gỗ lâu năm tại đây mang đến một sự trang trọng, cổ kính và thâm nghiêm cho ngôi chùa. Các cột gỗ được kê trên những tán đá vững chắc cũng là kết cấu quen thuộc của hầu hết các công trình kiến trúc cổ truyền tại Việt Nam.       

Khu vực trung tâm của chùa là chính điện, phía trên mái chính điện có tượng lưỡng Long tranh châu. Đây là nơi tập trung những kiến trúc cũng như những tác phẩm tạo tác đặc sắc của một ngôi chùa. Chính điện chùa Giác Lâm với kết cấu như đã trình bày ở phần trên, cộng với sự phối trí các tượng thờ có thể coi như một hình mẫu điển hình cho các ngôi chùa ở khu vực Sài Gòn – Gia Định. Lượng ánh sáng tự nhiên được thiết kế lọt vào chính điện khá ít ỏi tạo nên một sự uy nghiêm của chốn tâm linh. Chùa Giác Lâm có tổng cộng 113 pho tượng, phần lớn tượng trong chùa được làm bằng gỗ mít có niên đại từ giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX . Chính điện chùa là nơi bài trí nhiều tượng thờ nhất, các tượng thờ tại chùa có niên đại khác nhau được tạo tác bởi những nhóm thợ khác nhau nên phong cách chế tác cũng khác nhau. Một số tượng mang phong cách tạo tác của một số nghệ nhân khu vực miền Bắc, số khác lại mang phong cách của những nghệ nhân khu vực miền Trung hoặc miền Nam.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phong cách tạo tác tượng của khu vực miền Bắc, miền Trung thường thể hiện sự góc cạnh, đường nét trong mỗi pho tượng, còn các pho tượng ở miền Nam thường thể hiện một sự phóng khoáng và mang đậm tính hình khối. Để giải thích cho sự khác biệt đó, người ta thường giải thích dưới góc độ “địa văn hóa”. Tuy nhiên đó cũng chỉ là một ý kiến ! Phải chăng sự khác biệt trong phong cách tạo tác ấy là do quá trình giao lưu văn hóa và đan xen văn hóa qua các thời kỳ trong lịch sử ?       

Các pho tượng được xắp xếp tại chính điện chùa Giác Lâm có thể xem là một mô thức tiêu biểu cho cách phối tượng trong các ngôi chùa cổ tại tp. Hồ Chí Minh nói riêng và vùng Nam bộ nói chung .   

Ở bậc cao nhất trên bàn thờ trong chính điện chùa Giác Lâm là bức tượng Phật A Di Đà, bên trái (nằm ngoài bàn thờ chính điện) là tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, bên phải là tượng Bồ Tát Đại Thế Chí đây chính là bộ tượng Di Đà Tam Tôn. Ở hàng dưới tượng A Di Đà là tượng Thích Ca ở chính giữa, hai bên trái phải là tượng Ca Diếp và An Nan. Dưới bức tượng này là tượng Cửu Long thể hiện lúc đức phật Thích Ca mới chào đời có chín con rồng tới phun nước để tắm cho người . 

Bên dưới tượng Cửu Long là tượng Phật đản sinh, bên trái là tượng ông Ác bên phải là tượng ông Thiện. Phía dưới cùng của bàn thờ chính là bộ tượng ngũ hiền thượng kỳ thú  gồm tượng Thích Ca ở giữa hai bên là Bồ Tát Quán Thế Ấm, Đại Thế Chí, Văn Thù và Phổ Hiền. Các tượng này tay đều trong thế bắt ấn thể hiện tư thế đang hoằng hóa chúng sinh .


Hai bên trái phải của chính điện là bộ tượng thập bát la hán và thập điện diêm vương. Chùa Giác Lâm có hai bộ tượng Thập Bát La Hán. Trong đó bộ nhỏ hơn có niên đại sớm hơn (khoảng giữa thế kỷ XVIII) bộ lớn hơn có niên đại muộn (Khoảng đầu thế kỷ XIX). Ở bộ tượng La Hán niên đại sớm chúng ta thấy rằng  có nhiều đường nét tạo tác thể hiện sự ảnh hưởng của mỹ thuật Phật Giáo Trung Quốc mà điển hình nhất có thể thấy là chiếc áo khoác trên mình các vị La Hán có cổ cao và khuôn mặt các vị La Hán này cũng có nhiều đặc điểm nhân chủng của người Trung Quốc. Mặt khác nét suy tư, trầm ngâm trên khuôn mặt mỗi vị cũng cho thấy sự ảnh hưởng đậm nét của nghệ thuật phật giáo Trung quốc.

Song ở bộ tượng La Hán lớn hơn những đặc điểm ảnh hưởng của mỹ thuật phật giáo Trung Quốc đã giảm hẳn, từ chiếc áo khoác trên người các vị La Hán cũng đơn giản và mộc mạc hơn, phóng hoáng hơn, nét mặt của các vị hiện lên một vẻ rất tươi vui chứ không u buồn ủ rũ ! Phải chăng môi trường thiên nhiên của vùng đất mới đã tạo nên tâm trạng phấn khởi tươi vui trong tâm thức của những con người đang khai phá vùng đất mới để rồi tâm trạng hứng hởi đó cũng được chuyển thể khéo léo vào những pho tượng La Hán ?  

Phía cửa chính điện là tượng hai ông Hộ Pháp để bảo vệ nơi phật điện. Ngoài ra trong chùa còn phối trí một số bức tượng khác như tượng Tiêu Diện Đại Sỹ, Quan Thánh, Quan Bình, Châu Xương, Bồ Đề Đạt Ma, Mã Quan .

Phía sau bàn thờ chính được ngăn cách bằng một bức bình phong lớn là tới gian thờ Tổ của chùa theo cách bố trí thường thấy của Nam Bộ đó là “Tiền Phật Hậu Tổ” nơi đây có đặt hình ảnh cũng như các bài vị các vị tổ khai sáng ra chi phái Lâm Tế dòng đạo Bổn Ngườn. Phía sau gian thờ tổ là đến khu vực giảng đường với kiểu mái nối đọi với mái chính điện. Giảng đường có kết cấu và vật liệu tương tự như chính điện là nơi hội tụ các Tăng sỹ từ nhiều nơi đến dự các sự kiện quan trọng trong những dịp lễ của chùa.

Giảng đường được nối với nhà Trai thông qua một sân Thiên Tĩnh có tác dụng lấy ánh sáng cho ngôi chùa. Nhà trai là nơi học tập của các Tăng sỹ. Và  để hòa vào tổng thể kiến trúc chung nên trai đường cũng được xây dựng với lối kiến trúc không có mấy khác biệt so với chính điện và nhà giảng. Vẫn với những vật liệu gỗ truyền thống và kết cấu đâm trính cột kê quen thuộc, trai đường là phần kiến trúc cuối trong tổng thể kiến trúc chính của chùa Giác Lâm.  

Trải qua thời gian tồn tại dài lâu cùng dòng chảy lịch sử đầy biến động, chùa Giác Lâm hiện nay còn lưu giữ nhiều tác phẩm mỹ thuật Phật giáo độc đáo mà tiêu biểu phải kể đến đó là những câu đối bằng chữ Hán được tạo tác trên phần lớn những thân cột gỗ tại chùa. Có hơn 40 cặp câu đối được chạm nổi hoặc khắc chìm trên những thân cột trong chùa và được trang trí cầu kỳ với đường nét Hán tự cao rộng, thoáng đạt. Những câu đối này không chỉ đẹp về hình thức thể hiện mà còn mang trong mình những triết lý thâm sâu về mặt tư tưởng nhân sinh quan ! Ngoài ra trong chùa còn có một số liễn đối được làm bằng thân cây dừa vốn là loại cây quen thuộc tại vùng Nam Bộ, tuy nhiên số liễn đối dạng này không nhiều. Những bức hoành phi thể hiện tư tưởng Phật Giáo cũng như tư tưởng hướng thiện là những tác phẩm nghệ thuật có tính thẩm mỹ cao một vài bức hoành phi bằng chữ hán tiêu biểu như: “ Đạo Mạch Trường Hưng”,  “Phật Pháp Trường Hưng”, được sơn đen thiết vàng rất độc đáo .  

Đặc sắc nhất trong nghệ thuật trang trí tại Chùa Giác Lâm là 9 bao lam được tạo tác theo kiểu chạm lộng và phần lớn được đặt trong chính điện. Những bao lam này phong phú về đề tài, sinh động trong đường nét thể hiện. Có thể dễ dàng nhận ra motip thể hiện thường thấy trong nền mỹ thuật phật giáo như hình tượng Cửu Long (chín con rồng) được tạo tác sinh động, mềm mại đang uốn lượn phu nước tắm cho Đức Phật khi ngài ra đời. Hình ảnh những con vật thân quen bình dị thường thấy trong cuộc sống hàng ngày của người dân nơi đây cũng được thể hiện thật sinh động trong từng đường nét, cử chỉ, dáng vẻ, chẳng hạn như hình ảnh chú sóc đang say sưa thưởng thức trái cây bên cạnh một chú sóc khác đang tiến đến gần một chùm quả trong tư thế rón rén thận trọng. Tất cả đều thể hiện một cuộc sống thanh bình, khát vọng yêu thương cuộc sống, sự sinh sôi nảy nở của vạn vật cây trái. Điều đó cũng phần nào gợi cho ta cảm nhận được cuộc sống tương đối dư giả và hạnh phúc của những con người nơi đây trong lịch sử. 

Không gian trong bức bao lam dường như rộng rãi, thoáng đạt hơn nhờ hình ảnh những chú chim đang bay lượn trên không với dáng vẻ thoải mái, tự do hay những đề tài “phi, minh, túc, thực” của lòai chim cũng được tạo tác với những  đường nét tinh tế, sống động ẩn hiện trong lớp hoa văn dây lá trông thật tự nhiên, giàu sức biểu cảm .

Những bộ bàn thờ trong chùa cũng là những hiện vật quý được chế tạo từ những loài danh mộc và tạo tác khá công phu với sắc màu đen bóng của thời gian càng làm tăng thêm vẻ cổ kính, uy linh, trầm mặc của nơi thờ tự. Dường như có một motip chung thường thấy trong các bàn thờ tại những ngôi cổ ở tại tp. Hồ Chí Minh là không có những nét chạm khắc tại gờ mặt và chân mà chỉ có những nét chạm khắc ở rèm phía trước mặt bàn thờ theo lối chạm lộng những đề tài thường thấy như dây lá hóa rồng, sóc nho, hoa trái………

Những bộ lư hương (thường là bộ tam sự), bình hoa, chân đèn trong chùa cũng là những cổ vật có giá trị nghệ thuật to lớn cần được gìn giữ một cách cẩn trọng. Những cổ vật ấy vừa có giá trị vật chất lại vừa mang màu sắc văn hóa đậm nét trong sự giao lưu, đan xen đa chiều của văn hóa .   

Là một ngôi cổ tự có tuồi được xếp vào hạng bậc nhất của khu vực Sài gòn – Gia định, nên thật khó có lời nói, bài viết nào có thể thể hiện toàn bộ những giá trị văn hóa, văn vật của ngôi cổ tự cao niên này ! Chùa Giác Lâm mang trong mình những nét độc đáo về kiến trúc cũng như nghệ thuật trang trí mỹ thuật phật giáo, ngôi chùa này có thể được xem là đại diện tiêu biểu cho những ngôi chùa cổ theo hệ phái Bắc Tông ở khu vực Sài gòn – Gia định nói riêng cũng như khu vực Nam Bộ nói chung .  

Tài Liệu Tham Khảo 

Nguyễn Quảng Tuân, Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên, Những Ngôi Chùa Ở Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB TP.Hồ Chí Minh Năm 1993

Bảo Tàng Cách Mạng TP.Hồ Chí Minh, Di Tích Lịch Sử Văn Hóa TP.Hồ Chí Minh NXB Trẻ Năm 1998




[1] Nguyễn Quảng Tuân, Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên, Chùa Giác Lâm “Những Ngôi Chùa Ở TP. HỒ Chí Minh” NXB TP. HCM năm 1993 

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Chùa Phụng Sơn

                                                                        Chùa Phụng Sơn

          Phụng Sơn Tự là tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở khu vực Sài Gòn – Gia Định. Trải qua những biến động của thời gian ngôi chùa hiện nay vẫn còn lưu giữ được những nét kiến trúc cổ xưa. Hiện chùa tọa lạc tại địa chỉ số 1408 đường 3/2, quận 11 TP. Hồ Chí Minh

Theo những tư liệu cổ thì chùa được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XIX dưới triều vua Gia Long do thiền sư Liễu Thông từ miền Trung vào Nam để  hoằng hóa chúng sinh. Khi đến vùng đất gò mà hiện nay là chùa Phụng Sơn vị thiền sư đã thấy khung cảnh hữu tình, nên thơ với tiếng chim hót líu lo, thanh bình và yên ả nên người bèn lập một thảo am mái lá vách tranh để tiến hành tu tập và thuyết giảng cho chúng sinh. Đến năm 1904 thảo am cũ được xây dựng lại theo ý kiến của thiền sư Huệ Minh (trụ chì chùa 1904- 1915) .

Chùa Phụng Sơn có vài lần trùng tu và sử chữa thêm vào những năm 1960. Đến năm 1963 hòa thượng Thích Phước Quang cho xây lại cổng Tam Quan theo sự thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. Tuy có trùng tu nhưng chùa Phụng Sơn cơ bản vẫn còn giữ lại được những kiến trúc tiêu biểu, cổ kính của mình .

Vị trí của chùa được lựa chọn rất kỹ từ khi thiền sư Liễu Thông chọn đất dựng nên thảo am. Vốn là một vùng đất gò cao ráo (nên chùa còn được gọi là chùa Gò) xuang quanh gò có hào nước bao quanh, cảnh sắc thiên nhiên thật hữu tình. Từ xưa đến nay, vịệc chọn đất xây chùa là một công việc vô cùng quan trọng, thường thì các bậc tiền nhân hay chọn những vùng đất có vị trí cao ráo, sơn thủy hữu tình tạo cho ngôi chùa có một vị thế uy nghiêm, trang trọng và tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt của thuật phong thủy. Chùa Phụng Sơn tọa lạc trên một khu vực mà trước đây là vị trí của một ngôi đền thần Bà La Môn trong nền văn hóa Óc Eo cổ xưa cách ngày nay đã khoảng 15 thế kỷ điều đó đủ cho thấy rằng vị trí linh thiêng cũng như cảnh sắc tuyệt vời nơi đây! Những kết quả khai quật khảo cổ học tại khuôn viên chùa đã chứng minh rằng khuôn viên chùa thuộc nền văn hóa trong cương vực quốc gia Phù Nam xa xưa.

Phụng Sơn Tự nhìn chung có diện tích rộng lớn và quy mô, mái chùa cổ nằm khuất sau bao la cây cối mang đến cho người tham quan chùa một cảm giác thật bình yên nhẹ nhàng. Cũng như những ngôi cổ tự khác trên mảnh đất Sài Gòn – Gia định, cấu trúc chùa Phụng Sơn cũng gồm những hạng mục cơ bản như: cổng tam quan, khu vực sân, vườn chùa, chính điện, nhà tổ, nhà giảng…..v…..v….. Nhìn tổng thể kiến trúc của Phụng Sơn Tự theo kiểu “nội công ngoại quốc” rất rộng lớn và tráng lệ, với hành lang bao quanh, Đông Lang và Tây Lang chạy dọc nối chính điện và nhà giảng qua một khoảng sân thiên tĩnh ở giữa. 

Kiến trúc đầu tiên của một ngôi chùa thường là cổng Tam Quan, chùa Phụng Sơn cũng không là ngoại lệ dù rằng các chùa phía Nam thường ít xây dựng cổng Tam Quan hơn so với các ngôi chùa tại khu vực phía Bắc và miền Trung. Cổng Tam Quan vừa có tác dụng trong cuộc sống thế tục lại như là một ranh giới tâm linh giữa chốn đời và chốn đạo. Cổng tam quan chùa gồm một cổng chính to cao ở giữa và hai cổng phụ ở hai bên cổng chính. Cổng tam quan của chùa Phụng Sơn được xây dựng cách đây không lâu (năm 1963) theo bản vẽ thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. Nhìn chung cổng Tam Quan của Phụng Sơn Tự khá mộc mạc hòa nhập một cách toàn diện với khung quanh hữu tình xung quanh.  

Qua khỏi cổng Tam Quan là tới khu vực sân chùa, tại khu vực này người đến viếng chùa chính thức cảm nhận được cái khung cảnh thâm nghiêm, oai linh đượm chút cô tịch thường thấy nhưng lại rất bình dị của chùa. Sân, vườn chùa Phụng Sơn  rộng rãi có trồng nhiều cây cối làm cho không gian quanh chùa như dịu đi, khiến tâm hồn con người như thoải mái hơn, tĩnh lặng hơn để nhận thấy bản chất của cuộc sống là vô thường để rồi hướng tâm đến cái chân ngã vi diệu của đạo Phật.

Trong phần khuân viên rộng lớn của sân chùa có dựng tượng bồ tát Quán Thế Âm là vị bồ tát cứu khổ cứu nạn chúng sinh với chiếc lư hương phía trước và lọng che nắng, mưa rất kính cẩn như góp phần tạo nên vẻ đẹp của sự từ bi vô lượng mà ngài đã phát nguyện tới tất cả chúng sinh trong cõi Ta bà lắm đau khổ này !  

Trong phần kiến trúc xây dựng chính của chùa đầu tiên là chính điện. Chính điện là trung tâm của một ngôi chùa, đây cũng là nơi đặt phần lớn các bức tượng phục vụ cho việc thờ tự tại chùa. Chính điện chùa Phụng Sơn được xây với bộ khung gỗ và vì kèo theo dạng thức đâm trính – cột kê  được làm bằng gỗ, các cột này được kê trên các tán đá hình tròn tạo nên vẻ chắc chắn cho toàn bộ kiến trúc. Trải qua hơn 200 năm tồn tại và những lần trùng tu sau này, bộ khung vẫn giữ được nguyên dáng vẻ với kết cấu như xưa. Xung quanh chính điện được xây bằng tường gạch quét vôi màu vàng, mái chính điện được lợp ngói âm dương, độ dốc mái lớn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoát nước trong mùa mưa. Đây cũng là sự thích ứng với môi trường trong kiến trúc truyền thống của người Việt. Đầu ngói được làm bằng gốm xanh càng làm tăng thêm tính mỹ thuật, tráng lệ của ngôi cổ tự. Phần nền chùa được lát gạch tạo nên vẻ trang trọng và tôn nghiêm của nơi thờ tự. Không gian trong chính điện chùa được thiết kế rộng rãi tạo nên vẻ uy nghiêm, lượng ánh sáng tự nhiên cũng được khéo léo hạn chế trong chính điện tạo nên vẻ sự linh thiêng và huyền bí .

Hệ thống rui mè, xà của chùa được làm bằng gỗ với những họa tiết điêu khắc thường thấy tại vùng Nam bộ với đường nét chạm khắc tinh tế cầu kỷ trong từng cấu kiện nhỏ nhất tạo nên vẻ trang trọng gây cảm xúc thẩm mỹ cao cho người tớithăm viếng chùa viếng chùa. Chính điện của chùa được dựng theo mô thức “tứ tượng” tức 4 cột chính giữa điện có bình diện hình vuông. Mô thức tứ tượng thường chỉ được dung cho các công trình kiến trúc để thờ tự như đình, chùa…..Các cột gỗ trong chùa trải qua sự thử thách của thời gian nay đã trở nên đen bóng như làm tăng thêm vẻ cổ kính cho ngôi cổ tự trầm mặc này !

Cũng như những ngôi chùa theo hệ phái Đại Thừa ở Nam bộ, chùa Phụng Sơn có một số bộ tượng Phật thường thấy như bộ Di Đà Tam Tôn (gồm tượng Phật Ai Di Đà, tượng bồ tát Quán Thế Âm, và bồ tát Đại Thế Chí). Bộ tượng năm vị (ngũ hiền) thượng kỳ thú (Thích Ca, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền) và một số tượng khác như tượng Linh Sơn Thánh Mẫu, tượng, Long Vương, Quan Thánh Đế Quân, bộ tượng thầy trò Đường Tăng….

Trong chính điện chùa Phụng Sơn có hai bộ tượng Di Đà Tam Tôn được đặt ở phía trên cùng trong bàn thờ tại chính điện chùa, việc người dân tiến cúng tượng phật khiến cho nhiều ngôi chùa có hai hay ba bộ tượng giống nhau cũng là điều dễ hiểu . Phía dưới bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở hai bên là tượng Ông Thiện và Ông Ác (ông Thiện bên trái, ông Ác bên phải). Ở vị trí gần với người đến viếng nhất là bộ tượng Ngũ Hiền gồm có tượng Thích Ca đứng chính giữa, bên trái Thích Ca là Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí. Bên phải là Văn Thù và Phổ Hiền. Các tượng trong bộ “Ngũ Hiền” này được tạo tác với tư thế thượng kỳ thú và các con thú đều ở trong tư thế đứng. Những kỳ thú ở đây là những loài mãnh thú có sức mạnh to lớn như sư tử, voi….. Những con vật trên làm vật cưỡi cho chư phật như thể hiện một sự thuần phục của mọi thế lực mạnh mẽ trong tự nhiên trước phật pháp. 

Đặc biệt bồ tát Phổ Hiền thượng trên con voi có 9 ngà ở đây là một trong những bức tượng độc đáo của vị bồ tát này bởi thông thường voi trắng là vật cưỡi của bồ tát Phổ Hiền chỉ có 6 ngà, 9 ngà là một sự phá cách. Hình ảnh voi trắng tượng trưng cho sự uyên bác của trí tuệ. Hai bên tả, hữu của chính điện còn có bộ Thập Điện Diêm Vương được tạo tác công phu. Đặc biệt trong chính điện còn có bức tượng Linh Sơn Thánh Mẫu biểu thị cho tín ngưỡng dân gian, dòng tín ngưỡng dân gian đã sớm có sự hòa hợp với đạo Phật ngay từ khi đạo Phật mới du nhập vào trung tâm phật giáo Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) trong những thế kỷ đầu công nguyên .

Đối diện với tượng Linh Sơn Thánh Mẫu qua bộ “Ngũ Hiền” là tượng Quan Thánh Đế Quân một nhân vật anh dũng, trung nghĩa cũng được thờ tại chính điện như một vị thần hộ vệ cho phật pháp. Một số tượng khác cũng được thờ trong chùa như tượng bốn thầy trò Đường Tăng, Long Vương, Bồ Đề Đạt Ma, Thiện Tai, Long Nữ, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Bức tượng Hộ Pháp đứng song song với tượng Tiêu Diện Đại Sỹ ở ngay cửa vào như để bảo vệ cho đất Phật linh thiêng. Tượng Tiêu Diện Đại Sỹ tại chùa Phụng Sơn được làm bằng gốm sứ sài gòn là một cổ vật quý, góp phần làm phong phú cho phong cách nghệ thuật tạo tác tượng trong những thế kỷ trước tại Nam bộ.

Nhìn chung, các pho tượng Phật cũng như chư vị thần thánh khác trong chùa được tạo tác một cách tinh xảo bằng các vật liệu chủ yếu là gỗ và gốm, qua phong cách nghệ thuật của mỗi bức tượng ta thấy phảng phất đâu đó nghệ thuật tạo tác của nhiều nhóm thợ từ những vùng khác nhau trên cả nước đó là vẻ trầm tư suy nghĩ hay một chút gì đó thoáng đạt, vui tươi tự sâu trong tâm hồn của từng bức tượng hay cũng chính là của nghệ sỹ trong lịch sử ! Dù sao đi nữa đấy là một đề tài lớn có tính chuyên khảo về nghệ thuật phật giáo của từng vùng miền, trong khuôn khổ của bài viết này người viết chỉ có thể dừng lại ở sự gợi mở cho quý độc giả cũng như những người quan tâm về những kiến trúc cổ của người Việt tại vùng đất Sài Gòn – Gia Định !    

Ngay sau chính điện là gian thờ tổ của chùa, thường thì các ngôi chùa ở Nam bộ với bố cục chủ yếu theo kiểu “Tiền Phật Hậu Tổ” nên chùa Phụng Sơn cũng không là ngoại lệ. Trong gian thờ tổ của chùa còn lưu giữ hai bức tượng chân dung hai vị tổ của chùa là Huệ Minh và Huệ Thành được tạc bằng gỗ với đường nét tả thực chân dung của hai vị tổ này. Xét trên lĩnh vực thẩm mỹ thì hai bức tượng trên quả thật là những tác phẩm nghệ thuật giàu sức biểu cảm. Kết cấu của nhà tổ gắn chặt với chính điện tạo nên sự liền lạc và chắc chắn cũng như góp phần tăng thêm diện tích cũng như không gian thờ tự của ngôi chùa.  
Với cấu trúc khá khép kín nên để tạo lượng ánh sáng cho tổng thể kiến trúc chùa, người ta đã xây dựng một sân thiên tĩnh ngay ở vị trí nối giữa gian chính điện và nhà giảng. Sân Thiên Tĩnh có tượng bồ tát Quán Thế Âm và trồng khá nhiều cây cảnh tạo nên tạo thêm sinh khí cũng như có tác dụng cân bằng lượng ánh sáng cho ngôi chùa. Nhà giảng đường nằm ở ngay sau sân thiên tĩnh cũng được xây dựng với hệ thống cột gỗ và mái được lợp ngói âm dương không có sự khác biệt nhiều so với kết cấu của chính điện.

Ngoài ra trong khu vực khuôn viên chùa còn có tháp tổ Huệ Thành được xây dựng công phu với nhiều chi tiết hoa văn mang ý nghĩa phật giáo, khuôn viên chùa có nhiều cây cối xum xuê, tỏa bóng mát làm cho bầu không khí quanh chùa thêm phần trong sạch, thanh tịnh, ngoài ra cây cối cũng góp phần tạo thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi cổ tự trăm năm tuồi này .

Trong khu vực chùa Phụng Sơn hiện nay vẫn còn ẩn chứa biết bao điều bí ẩn và hấp dẫn đối với những nhà nghiên cứu lịch sử vàvăn hóa học. Chùa hiện nay còn lưu giữ được hai bức tượng Thích Ca mang phong cách của Thái Lan và nhật Bản chứng tỏ sự giao lưu văn hóa trong quá khứ. Bức tượng Thích Ca mang phong cách Thái Lan được làm bằng đồng cao 126,5cm với dáng vẻ rất thanh mảnh, mang những đặc điểm nhân chủng dễ nhận thấy của cư dân Thái. Bức tượng rất thanh thoát, tạo cảm giác nhẹ nhàng và mang lại cảm giác mỹ thuật cao cho toàn bộ tác phẩm. Tượng được tạo tác trên một bệ tượng gồm 3 tầng mang hình dáng của cánh hoa sen là một loại biểu tượng kết hợp thường thấy trong nghệ thuật Phật Giáo. Bức tượng Thích Ca mang phong cách Nhật Bản bằng gỗ có tư thế thể hiện đức phật đang tọa thiền và tay đang bắt ấn, ngài choàng Samghati trong tư thế tập trung suy niệm. Cả hai bức tượng này đều là những cổ vật quý giá của chùa Phụng Sơn .

Chùa Phụng Sơn là một đi tích kiến trúc, tôn giáo quan trọng. Trong chùa hiện nay còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ rất đặc trưng cho nghệ thuật tạo tác tượng cổ ở khu vực Nam Bộ nói chung và hu vực Sài Gòn – Gia Định nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XIX, trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến bức tượng phật bằng đá dát vàng và bộ tượng Ngũ Hiền độc đáo ở chùa. Ngoài ra khuôn viên chùa Phụng Sơn còn là di chỉ khảo cổ học quan trọng của nền văn hóa Óc Eo cổ xưa gắn liền với vương quốc Phù Nam hùng mạnh một thời trong quá khứ. Chùa Phụng Sơn đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật theo quyết định số 1288- VH/QĐ ngày 16/11/1988 của bộ văn hóa .  

Tài Liệu Tham Khảo :   

BẢO TÀNG CÁCH MẠNG TP.HỒ CHÍ MINH DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NXB TRẺ NĂM 1998

TRẦN NHO THÌN, VÀO CHÙA LỄ PHẬT SỰ TÍCH – Ý NGHĨA CÁCH BÀI TRÍ, NXB HÀ NỘI NĂM 2008


Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Mấy Lời Tự Sự Nhân Lúc Rỗi Rãi.........

Cái nghề viết lách vốn là một thói quen của tôi từ thuở thiếu thời, hễ thấy cái gì hay ho thì liền ghi nhớ lại, chép vào một quyển tập nhỏ thỉnh thoảng lấy ra đọc sau đó đem so sánh với những kiến thức mà mình có dịp tiếp thu để hiểu hơn về một vấn đề nào đó. Tính ra cái thói quen này cũng tồn tại chí ít cũng là mười mấy năm trời tuy không là quá dài song cũng không thật ngắn. 

Mười mấy năm đọc sách, va chạm thực tiễn cuộc sống và ghi chép lại cũng được một số kha khá các kiến thức về tự nhiên, văn hóa- xã hội. Nhưng than ôi ! biển kiến thức thì mênh mông, sức người lại có hạn càng học tập, nghiên cứu, tìm tòi mới thấy kiến  thức thật sự là vô tận và những gì mình biết chỉ là những hạt cát vô cùng bé nhỏ chả thấm tháp vào đâu.......Nhưng cứ đọc sách mãi xem chừng nó dẫn con người ta đi đến đâu ? đi hoài không thôi, chả mấy chốc thời gian như bóng câu qua cửa sổ khiến ta chẳng mấy hóa già và xuống lỗ mất rồi! Tâm trí nghĩ rất nhiều việc giữa bộn bề trăn trở, tuy nhiên nhân lúc tĩnh lặng giữa đêm khuya thanh vắng bất chợt nhận thấy rằng đọc sách nhiều cho lắm vẫn cứ là kiến thức của người ta dù mình qua đó có thêm phần hiểu biết. Tự thấy cần phải viết lại những gì mình đã biết dẫu rằng kiến thức bản thân còn nhiều lỗ hổng và nông cạn....Những mong qua việc viết lách này góp phần hoàn thiện hơn về mặt kiến thức của chính bản thân cũng như gióp một phần thật nhỏ cung cấp cho quý bạn đọc một số thông tin, kiến thức về lịch sử, văn hóa....v..v.....trong những lúc rỗi rãi tản mạng đâu đó trên mạng internet. 

Những bài viết này không theo bất kỳ một thứ tự nào, cũng không phải là một cuốn sách mà chỉ là những bài ghi chép, nghiên cứu của bản thân người viết từ những nguồn tư liệu khác nhau cũng như những việc mắt thấy tai nghe hay đơn giản đó là một bài thơ, một tản văn nào đó ! Nói chung có thể gọi đó là một món "thập cẩm tri thức" ai có nhu cầu trong lĩnh vực nào cũng sẽ dần được phục vụ! Tuy nhiên sức người vốn có hạn lại cộng thêm trình độ còn nhiều hạn chế nên thành ra chắc chắn sẽ có nhiều những thiếu sót khách quan. Ấy vậy nhưng cũng không làm nản chí người viết, thôi thì cần cù bù thông minh vậy, vừa viết vừa mày mò nghiên cứu cộng thêm sự tiếp ứng của các bạn đọc nên cũng mong rằng bản thân ngày càng vỡ lẽ ra nhiều vấn đề. 

Trong thời đại khoa học công nghệ như hiện nay, thông tin như vũ bão, mạng internet đã làm cho con người giữa các châu lục, các nền văn hóa khác nhau tiến lại gần và hiểu nhau hơn. chỉ một cú click chuột máy tính chúng ta đã cô vô số những thông tin bổ ích. Người viết hi vọng rằng qua các bài viết của mình sẽ cung cấp một vài thông tin thú vị cho bạn đọc mà đặc biệt là những sinh viên ngành văn hóa học cũng như khảo cổ học  một chút ít kiến thức trong bao la kiến thức của nhân loại ! Nếu đúng thì các bạn nhớ lấy giùm, nếu sai các bạn sữa chữa cho kẻ lẩm cẩm này góp phần làm cho mọi người ngày càng tiến bộ xem ra đó cũng là một mục đích tốt  cần phát huy thật mạnh mẽ 

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Yếu tố mội trường ảnh hưởng đến nền văn hóa khảo cổ Đông Sơn

Kể từ buổi bình minh của lịch sử , cách đây vài triệu năm khi những con người mông muội đầu tiên bước vào cuộc sống đầy hoang sơ và bí ẩn trên trái đất thì giới tự nhiên đã tác động đến con người một cách sâu sắc , cứ theo thời gian cho đến tận ngày hôm nay chúng ta vẫn tồn tại trên địa cầu này , vẫn ngày đêm phát triển không ngừng chỉ có một điểm khác đó là chúng ta bây giờ hiện đại hơn và khả năng thích ứng với môi trường tốt hơn (nên nhớ là thích ứng chứ không phải chế ngự bởi con người không thể chế ngự được thiên nhiên mà chỉ thích ứng với thiên nhiên mà thôi) . Như vậy trong suốt hàng triệu năm của lịch sử loài người (ở đây xin tạm thời không đề cập đến các loài sinh động vật khác bởi vì chỉ có con người mới là chủ thể của văn hóa , yếu tố mội trường cũng ảnh hưởng rất lớn tới các loài sinh thực vật khác nhưng xin trình bày ở một bài viết khác có tính chuyên khảo về sinh học) con người luôn luôn gắn bó và chịu sự tác động trực tiếp của môi trường và một xu hướng dường như xuyên suốt trong lịch sử loài người đó là con người luôn có xu hướng gắn bó với giới tự nhiên và thích ứng với thiên nhiên . Chính sự thích ứng này là một động lực tất yếu khiến con người ngày càng tiến bộ . Ở đây chúng ta thấy rằng có một mối liên hệ tác động qua lại hai chiều giữa con người và mội trường cụ thể là môi trường thiên nhiên tác động tới con người và tới lượt mình con người lại thích ứng với môi trường thông qua các hoạt động của mình và từ đó các nền văn hóa ra đời . Nói như vậy không có nghĩa là văn hóa được hình thành từ một yếu tố duy nhất đó là mội trường bởi vì văn hóa là một định nghĩa vô cùng rộng lớn theo sự hiểu biết của cá nhân tôi thì hiện nay có khoảng vài nghìn định nghĩa về văn hóa trên thế giới ! Nhưng phải khẳng định một điều đó là yếu tố môi trường có một vị trí quan trọng và mang tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa . Chính vì thế yếu tố mội trường trong một nền văn hóa biểu thị qua những di vật và di tích là một vấn đề cần hết sức quan tâm và có hiểu được yếu tố mội trường tác động tới một nền văn hóa cụ thể chúng ta mới có được những hiểu biết đầy đủ về nền văn hóa đó . Các di tích và di vật mà khảo có học tại Việt Nam nói riêng cũng như Khảo cổ học trên thế giới nói chung đã phản ánh rất rõ nét về yếu tố môi trường trong đời sống của các cư dân cổ xưa . Những cồn sò điệp tồn tại trong các di tích thuộc văn hóa Bàu Tró tại khu vực trung bộ Việt Nam cho thấy môi trường sống gắn bó với thiên nhiên miền biển của cư dân khu vực này . Trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống hàng ngày chúng ta cũng thấy rằng những họa tiết trang trí trên những di vật của văn hóa Đông Sơn cũng thể hiện được sự gắn bó với yếu tố môi trường sinh sống của cư dân đương thời . Những nhà sàn với mái cong vút tạo cho chúng ta liên tưởng đến những chiếc thuyền lênh đênh trên sóng nước . Không chỉ khi sống mà ngay cả đến khi qua đời con người ta cũng thể hiện những yếu tố văn hóa chịu sự tác động của môi trường như mộ thuyền ở khu vực Bắc bộ Việt Nam là một ví dụ rõ nét nhất cho thấy sự tác động của thiên nhiên tới văn hóa của con người . Như vậy vai trò của môi trường đóng góp một phần quan trọng trong sự tiến bộ của loài người, nó định dạng văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia dân tộc hay một vùng lãnh thổ nào đó . Chính vì thế môi trường có một vai trò quan trọng xuyên suốt trong lịch sử hình thành và phát triển của loài người và con người không thể tách rời thiên nhiên . Thông điệp đó luôn có giá trị và không bao giờ lỗi thời 

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Chút Kỷ Niệm Cũ

Dòng thời gian trôi mãi cũng đã đến mấy năm trời cách biệt chả gặp mặt. Biết bao nhiêu nỗi niềm muốn nói nhưng cũng chả biết nói cùng ai . Dòng sông ngày xưa vẫn thật êm đềm nó chảy qua mái trường cũ thật thong thả và chậm rãi . Từng cơn gió thổi mang theo cái vị của hơi nước xua đi cái nóng nực của một ngày bận rộn và mệt mỏi nơi phố thị . Có lẽ thật may mắn khi tôi được học ở một ngôi trường với phong cảnh thi vị như vậy . Bởi thế mà giờ đây khi xa cách mái trường phổ thông đã mấy năm rồi nhưng tôi vẫn chẳng bao giờ quên được cái khung trời mộng mơ đó ! Cuộc sống thật bận rộn đôi khi nó làm cho con người chai sạn trong cảm xúc tâm hồn trở thành một người vô cảm , nhưng dù gì đi nữa thì tôi tin rằng những kỷ niệm đẹp , những khoảng trời mộng mơ của mỗi con người sẽ chỉ phai mờ một cách tạm thời giữa bộn bề cuộc sống và thật sự nó sẽ sống lại khi mỗi chúng ta có một khoảng lặng suy ngẫm và nhìn lại chính bản thân mình trong quá khứ . Kỷ niệm có thể vui hoặc buồn chuyện đó cũng chả có gì quan trọng nữa bởi tất cả đã thuộc về quá khứ mất rồi . dòng thời gian đã làm thay đổi mọi thứ , chúng ta trưởng thành hơn , chính chắn hơn và cũng đủ lớn đề nhìn về những gì đã qua , những yêu thương hờn giận thật ngây thơ và cũng đáng yêu biết dường nào . Cũng chả có gì phải tiếc nuối những gì đã diễn ra bởi nó đã là kỷ niệm rồi hãy để nó tồn tại như chính bản thân nó trong lịch sử của mỗi người và chúng ta hãy nhìn nhận nó thật khách quan và công bằng . Chỉ có dòng sông xưa là vẫn thế , vẫn dào dạt sóng nước mênh mông vỗ về đôi bờ đến tận nghìn năm.....................

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Lời Tựa Cho Khảo Cổ Học


Cũng lâu rồi không vào Blog viết lách một chút gì đó , mọi người thông cảm nha tại bận công việc quá đó mà . Cái công việc nghiên cứu khoa học này nó nhức đầu lắm . Nhưng kệ mình vẫn vui vì đã chọn một đam mê là đi theo khoa học mất rồi . Moi ngành khoa học đều có giá trị vô cùng to lớn đối với sự phát triển của loài người (ở đây cần phải hiểu là khoa học chân chính) . Khoa học lịch sử thuộc nhóm ngành khoa học nhân văn đã được quan tâm và hình thành từ thời cổ đại ở cả phương Tây và phương Đông với những sử gia nổi tiếng như : Herodot , Khổng Tử .v....v... Theo thời gian khoa học xã hội ngày càng phát triển vô cùng phong phú và rực rỡ với những nền tảng của triết học làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu nên từ lâu Khảo cổ học đã được khá nhiều những học giả quan tâm . Ở giai đoạn phong kiến cả phương Đông và phương Tây đều có những phát hiện thú vị về những hiện vật của thời đại trước đó , nó gây nên trí tò mò khám phá cho con người và họ bắt đầu quan tâm đến những hiện vật đó một cách hứng thú hơn . Việc giải thích những hiện vật đó trong thời gian đầu không thoát khỏi cái nhìn hạn chế và những yếu tố có liên quan đến những lực lượng siêu hình như tôn giáo chẳng hạn . Thời gian dần trôi con người với những thành công vượt bậc của khoa học kỹ thuật ngày càng làm chủ được cuộc sống của chính mình tuy vẫn còn chịu sự chi phối khá mạnh mẽ của tự nhiên song con người được vũ trang hóa bởi trí thức của thời đại đã không còn quá tin vào những chuyện huyền hoặc mà bắt đầu lý giải nó dưới góc nhìn của khoa học và kỹ thuật . Các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm tới những hiện vật mà con người đã sưu tập được và đặc biệt hơn họ đã bắt đầu nghiên cứu những dấu tích từ thời xa xưa để lại trên những công cụ hay vật chất nào đó thay vì tìm lời giải thích từ những tôn giáo lâu đời ! Và trời ơi ! một kho tàng kiến thức khổng lồ vô biên vô tận đã mở ra khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu những vật chất câm đó ! Chúng là những chứng nhân câm lặng của lịch sử và đặc biệt là chúng hoàn toàn khách quan . Công việc của các nhà nghiên cứu là giải mã chúng bắt chúng phải nói lên những điều đã từng xảy ra trong lịch sử loài người chí ít là vài triệu năm cách ngày nay . Lịch sử loài người luôn luôn vận động và phát triển từ những hình thức sơ khai ban đầu là việc sử dụng  những công cụ bậc 1 (một công cũ tự nhiên nào đó có thể bắt gặp bất cứ đâu trong tự nhiên) đến việc tạo ra công cụ từ những công cụ bậc 1 đó tạm gọi là công cụ bậc 2 . Bạn có thể hình dung được không ? Một cái đơn giản là chế tạo những công cụ đá đem lại những công năng cao cho cuộc sống thì con người đã mất vài triệu năm rồi đấy ! Có thể thấy rằng con người được hình thành cách đây khoảng 3,5 triệu năm từ một loài vượn phương Nam là Australopitec ở khu vực Đông và Nam Châu Phi cho đến tận thời đại cách mạng đá mới (10.000 năm Trước Chúa giáng sinh) thì con người vẫn đắm chìm trong những công cụ đá và việc chế tạo chúng . Thậm chí ngay trong thời đại đầu kim khí thì việc sử dụng các công cụ đá xem ra vẫn rất được chú ý . Như thế thời đại đồ đá kéo dài nhất trong lịch sử loài người , điều đó ai cũng biết nhưng tôi muốn nhắc lại ở đây để chúng ta thấy rằng tổ tiên của chúng ta đã phải mày mò trong quá vẵng như thế nào từ những hòn đá, hòn cuội trong tự nhiên chưa được chế tác cho đến những lưỡi rừu, những con dao đá hay những công cụ được mài một mặt hoặc hai mặt là cả một quá trình kiên trì sáng tạo không mệt mỏi của tồ tiên loài người . Sau thời đại đá là tới thời đại chuyển tiếp giữa đá và kim loại và rồi kim loại bắt đầu xuất hiện , nhựng thành tựu văn minh kỳ vỹ và to lớn của nhân loại cũng đã được hình thành trong giai đoạn đầu của thời đại kim khí này. Ven những con sông những quốc gia cổ bắt đầu hình thành ở khu vực Châu Phi phải kể đến một quốc gia đó là Ai Cập được hình thành ở khu vực Sông Nin với những thành tựu to lớn về tất cả các lĩnh vực như : Chữ viết , văn học , tôn giáo , nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc , y học thiên văn học ....v...v.....là những thành tựu hết sức to lớn khiến nhân loại phải ngưỡng mộ . Ở khu vực Lưỡng Hà thuộc Đông phương là khu của hai con sông lớn chảy qua đó là Tai gơ và Ơ rơ phát  tại khu vực này qua các cuộc điều tra và nghiên cứu khảo cổ học cũng thu được những bằng chứng hết sức cụ thể về lịch sử văn minh của một số quốc gia mà tiêu biểu là quốc gia Babilon nổi tiếng dưới triều vua Hamurabi lịch sử . Lần đầu tiên con người đã phát hiện ra một bộ luật được khắc trên đá của vua Hamurabi chứng tỏ xã hội đã phát triển tới một mức độ khá cao (những điều trong bộ luật này xin được giới thiệu ở một bài viết khác) . Rồi đến Ấn Độ một vương quốc của tâm linh với vô số những điều thú vị được các nhà khảo cổ phát hiện cũng làm nhân loại vô cùng kính phục . Việc phát hiện ra nền văn minh sông Ấn (có niên đại khoảng nửa sau thiên niên kỷ III trước thiên chúa giáng sinh đến khoảng năm 1750 trước thiên chúa giáng sinh) mà tiêu biểu là hai khu vực di tích vốn là hai thành phố cổ đại đó là Harapa và Mohengio-Daro đã cho thấy trình độ tổ chức đô thị và kỹ thuật xây dựng của cư dân khu vực văn minh sông Ấn phát triển tời mức nào và còn rất nhiều những phát hiện khác nữa liên quan đến những tôn giáo đã từng tồn tại trên mảnh đất này được các nhà khảo cổ đưa ra ánh sáng của thời hiện đại . Trung quốc một đất nước rộng lớn ở khu vực Đông Á cũng có một nền lịch sử văn hóa lâu đời ở ven khu vực hai con sông lớn đó là Hoàng Hà ở phương Bắc và Trường Giang (Dương Tử) ở phương Nam . Khảo cổ học cũng đã có những khám phá to lớn trên đất nước này từ thời tiền sử như việc phát hiện di cốt của người vượn Bắc kinh và sau đó là những khám phá về thời sơ sử và lịch sử của đất nước này . Xung quanh những trung tâm văn hóa trên các quốc gia phụ cận cũng như khắp mọi nơi trên thế giới này đều tồn tại những nền văn minh khác có sự giao lưu văn hóa cũng như những truyền thống riêng vô cùng độc đáo . Những thành quả văn hóa  lớn lao như thế không thể bị lãng quên trong lịch sử . Chính vì thế ngành Khảo cổ học với chức năng tìm tòi nghiên cứu và phục dựng lại lịch sử đã ra đời như một tất yếu phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu về lịch sử văn minh của nhân loại